Chủ nhật, 12 08th

Last updateChủ nhật, 08 12 2019 12am

Lịch sử - Văn hóa

Cha Vô Danh: Khúc quanh đầu tiên trong đời (P. 13)

"Bà về nói lại với mợ thì mợ không tin tí nào cả, thật ra là không muốn tin nhưng vẫn bị ám ảnh, và mợ cứ lo ngay ngáy vì hồi đó trẻ sơ sinh cũng dễ mất lắm, nhất là trong điều kiện sống khó khăn, ăn uống thiếu thốn, thuốc men không có. Khi thấy con lớn lên khỏe mạnh, mợ quên dần lời ông thấy bói mù kia, không còn nghĩ tới nữa. Không ngờ khi con được 4 tuổi thì được ông Trung tá Pháp về hưu cho biết là cha con đã tử trận lúc con mới được 14 tháng."

De_pre_inconnu-PhamNgocLan

.."De Père Inconnu” (“Cha Vô Danh”) của tác giả Phạm Ngọc Lân được nhà xuất bản lớn L’Harmattan ở Paris xuất bản và phát hành đầu tháng 2-2015

 

1- 2- 3- 4- 5- 6- 7- 8- 9- 10- 11- 12-  ...

***

Khúc quanh đầu tiên trong đời - 1948

(Chuyện kể của người mẹ)

Long ơi, còn một chuyện quan trọng trong đời con mợ muốn kể đầy đủ một lần cho con nghe. Con cũng đã biết qua rồi, nhưng mợ muốn con biết rõ tất cả chi tiết đầu đuôi câu chuyện này.

Ở nhà ai cũng gọi con là Long, đó là tên mợ đặt cho con lúc lọt lòng. Nhưng ở trường bạn bè vẫn gọi con là Jean Martin. Cái tên này ở đâu ra, ai đặt cho con? Con cũng biết đó là tên của cha con, nhưng làm sao con có được giấy tờ chính thức để mang tên ấy?

Khi gia đình mình hồi cư về Hà Nội năm 1948, con được cơ quan xã hội của Pháp lo cho con vì con lai Pháp, và từ đó cả gia đình cũng được hưởng lây.

Quan trọng hơn cả là cả nhà đã làm lại được giấy tờ tùy thân, đặc biệt con có một giấy khai sinh mới, giấy tờ cũ đã mất hết từ khi còn ở Sài Gòn, trong vụ đến ngủ nhờ nhà ông quan năm người Pháp.

Khi từ Phúc Yên lặn lội hồi cư về đến Hà Nội thì cả nhà trong cảnh lôi thôi lếch thếch, riêng con là một đứa bé 4 tuổi mặt mũi xinh xắn, trắng trẻo, trông không ai bảo là người Việt cả. Nhưng con lại mặc bộ quần áo vải nâu mợ may cho con, chân đi guốc, chẳng khác nào một đứa bé quê. Đã thế, con lại không biết nói một tiếng Pháp nào, mà nói tiếng Việt với giọng Hà Nội thì rất sõi. Những người làm việc trong cơ quan xã hội của Pháp thấy thế rất thương, và càng cưng con hơn nữa vì sự tương phản giữa bề ngoài Pháp và bề trong Việt Nam của con. Ngoài quần áo và thực phẩm được phân phát cho những người hồi cư, họ cho con thêm bánh kẹo, sô-cô-la… Lần đầu tiên trong đời con được nếm mùi cái kẹo tây, được biết thế nào là kem cây…

Một người đàn ông lớn tuổi phụ trách cơ quan xã hội ở đấy, đó là một ông Trung tá Pháp đã về hưu, ông này đặc biệt cưng con lắm, mỗi lần mợ mang con đến là ông ôm con vào lòng như con cháu mình vậy. Ông nói với mợ sẽ lo cho con có quốc tịch Pháp, vì theo ông thì với khuôn mặt của con, ông chắc chắn là cha con người Pháp không cần phải đợi mợ nói ra mới biết. Ông nói là mặc dù con không có giấy tờ gì cả, con vẫn có quyền có quốc tịch Pháp theo luật lệ gì đó mợ không biết (1).

Muốn vậy, ông hỏi mợ về cha con tên gì, làm gì, cấp bậc gì, ở đâu, v.v. ông ghi chép rất tỉ mỉ rồi hứa sẽ làm thủ tục hồ sơ đưa lên tòa án để xin giấy tờ hộ tịch cho con. Ông nói vì phải qua tòa án nên việc này khá lâu mới xong, mợ về chờ vài tháng sẽ có tin.

Một hôm, mợ nhận được giấy gọi đến cơ quan xã hội để lấy giấy tờ. Ông Trung tá về hưu đưa cho mợ một tờ giấy viết bằng tiếng Pháp, ông nói phải giữ thật kỹ vì đó vừa là giấy khai sinh của con, vừa là giấy chứng nhận con có quốc tịch Pháp. Đó là một chứng thư (i) của Tòa Sơ thẩm Sài Gòn ký ngày 29 tháng 5 năm 1948 trong đó tòa "phán quyết" (ii) là Martin Jean sinh ra tại Sài Gòn ngày 20 tháng 11 năm 1944, mẹ là Lê Thị Kim, cha vô danh trên pháp lý nhưng xem như có quốc tịch Pháp, và được xác nhận là công dân Pháp."

Thế là từ đó con đã biến thành một công dân Pháp, với một tên Pháp, tên của cha con, không còn mang tên Long với họ của mẹ nữa. Ngay cả ngày sinh của con cũng thay đổi. Và điều này không phải do mợ muốn, mợ cũng không hiểu tại sao họ lại đổi ngày sinh của con. Thật ra sau khi về nhà rồi cậu đọc kỹ văn bản bằng tiếng Pháp mới khám phá ra chỗ sai này. Nhưng đối với người Việt mình, ngày sinh trong dương lịch không quan trọng lắm, ngày tháng năm sinh trong âm lịch mới cần ghi nhớ. Vì vậy mợ cũng chẳng nghĩ đến việc xin sửa đổi lại ngày sinh của con làm gì.

Về sau suy nghĩ lại, chắc là khi nhân viên ở cơ quan xã hội hỏi ngày sinh của con, họ đã ghi sai. Mợ trả lời là con sinh năm 1944, và mợ chỉ nhớ là ngày 20 tháng chạp âm lịch, không nhớ theo dương lịch là ngày nào tháng nào. Người lo giấy tờ không có bảng đối chiếu ngày tây ngày ta, nên ghi là 20 tháng 11, tức là bớt đi một tháng vì âm lịch và dương lịch chênh lệch nhau khoảng một tháng. Nhưng họ lầm ở chỗ là đáng lẽ khi đổi từ âm lịch qua dương lịch phải tăng lên một tháng, tức là 20 tháng giêng, họ lại bớt đi một tháng, thành ra tháng 11! Nếu họ ghi là 20 tháng 1 năm 1944 thì cũng không đúng, nhưng chỉ sai có ít ngày, còn trường hợp con họ ghi là 20 tháng 11 nên bị sai 10 tháng!

Nhưng cái tên mới và giấy tờ mới này sẽ chỉ bắt đầu dùng hai năm sau đó, khi con bắt đầu cắp sách đến trường. Ở nhà con vẫn tên là Long, mọi người vẫn gọi con là Long, không ai nhắc đến tên Pháp của con cả. Và cả mãi đến sau này, tên Pháp của con sẽ chỉ được dùng ở trường, và chỉ có bạn học của con nhắc đến mà thôi.

Cũng vào dịp này, cậu mợ làm giấy thế vì khai sinh và hôn thú, vì chạy loạn có còn giấy tờ gì nữa đâu. Nhân cơ hội này cậu rút bớt xuống 7 tuổi, nên trên giấy tờ cậu cũng sinh năm 1921, tức là bằng tuổi mợ. Nhưng thật ra cậu tuổi Dần, tức là sinh năm 1914. Hồi đó ai cũng có khuynh hướng muốn rút tuổi xuống, nhất là trẻ con, vì loạn lạc bị học hành trễ, nên rút tuổi đi cho đúng với lớp học. Còn người lớn như cậu rút tuổi xuống cũng vì loạn lạc, thời trẻ đâu có làm việc gì cố định để tính vào thâm niên công vụ, nên rút tuổi xuống để khi làm việc có đủ năm mới có hưu trí đầy đủ. Tưởng thế là hay, ai ngờ sau này việc rút tuổi trong trường hợp của cậu lại hóa ra là tai hại, lái hẳn số phận của cả nhà theo một chiều hướng khác!

Nhắc lại chuyện giấy tờ của con, mợ lại nhớ đến một chuyện khác cũng vào lúc đó, chuyện quan trọng đối với mợ, nhưng còn quan trọng hơn nữa đối với con.

Khi ông Trung tá Pháp đã về hưu ở cơ quan xã hội hỏi mợ chi tiết về cha của con để làm giấy tờ, ông cũng hứa sẽ tìm tin tức của cha con xem bây giờ ở đâu, làm gì. Mợ nói là mợ cũng muốn biết vì tò mò thôi, thật ra mợ xem chuyện làm giấy tờ quan trọng hơn là tìm tung tích cha con vì đối với mợ đấy là chuyện ngày xưa, nay mợ đã có chồng Việt Nam rồi, sắp có con với người chồng mới, nên mợ không muốn gợi lại chuyện đó nữa. Ông ấy nói là mợ cũng có lý của mợ, nhưng theo ông thì con cũng nên biết tin tức về cha con hiện nay như thế nào.

Đến ngày có giấy tờ, mợ dắt con theo đến gặp ông ấy thì ông ôm con vào lòng và nói là con mồ côi cha rồi, vì cha con đã tử trận ở Lạng Sơn trong cuộc đảo chính Nhật tháng 3 năm 1945 (2).

012619 1a

Lạng Sơn, biên giới Việt Trung, cửa khẩu Hữu Nghị 2007.Cột mốc Km "0" trên nguyên tắc nằm trên lằn ranh giữa hai nước. Không thấy ải Nam Quan đâu cả.

Nghe tin đó mợ cũng bồi hồi xúc động, vì tuy đã mấy năm xa cách không còn liên lạc gì nữa, nhưng dù sao đó cũng là cha của con. Rồi mợ bỗng nhớ lại một chuyện khác khi con mới sinh ra. Bà ngoại đi xem ông thầy bói mù ở đâu đó, khi bà ngoại cho ông ấy biết ngày giờ tháng năm sinh của con, ông thầy mù bấm độn hay làm gì đó mà phán một câu xanh rờn "thằng nhỏ có số xung khắc cha, hai cha con không thể sống cùng được! Có cha thì không có con, mà có con thì không có cha."

Bà về nói lại với mợ thì mợ không tin tí nào cả, thật ra là không muốn tin nhưng vẫn bị ám ảnh, và mợ cứ lo ngay ngáy vì hồi đó trẻ sơ sinh cũng dễ mất lắm, nhất là trong điều kiện sống khó khăn, ăn uống thiếu thốn, thuốc men không có. Khi thấy con lớn lên khỏe mạnh, mợ quên dần lời ông thấy bói mù kia, không còn nghĩ tới nữa. Không ngờ khi con được 4 tuổi thì được ông Trung tá Pháp về hưu cho biết là cha con đã tử trận lúc con mới được 14 tháng.

Mợ rùng mình… Có tin lời thầy bói được không?

 012619 1b

Lạng Sơn, cầu Kỳ Lừa trên sông Kỳ Cùng, 2007.

Gần chỗ này, vào đêm 12 rạng ngày 13 tháng 3 năm 1945, vài ngày sau cuộc đảo chính Nhật, quân Nhật đã tàn sát hơn một trăm tù binh Pháp bằng gươm, dao, cuốc, xẻng trước một ngôi chùa (hay đền?) mới xây thời đó bên bờ sông Kỳ Cùng.

____________________________

(i) Bản tiếng Pháp ghi là "Jugement", nếu dịch theo từ điển là "Bản án". Dùng "Bản án" trong giấy tờ hộ tịch như trường hợp của tác giả ở đây nghe… ghê quá!

(ii) Bản tiếng Pháp ghi là "dit et juge", dịch từng chữ là "nói và xử". Không biết trong tiếng Việt dùng "phán quyết" có chính xác không, xin quý vị trong ngành tư pháp chỉ giáo giùm.

(1) Năm 1928, chính phủ Pháp ở Paris ra một loạt nghị định (décrets) nhằm giải quyết tư cách pháp lý của các con lai tại các thuộc địa. "Nghị định" có giá trị như một luật, nhưng không do Quốc hội bầu ra, mà do Tổng thống ban hành.

Riêng nghị định dành cho Đông Dương được ký ngày 8 tháng 11-1928. Nghị định này cho phép được nhập quốc tịch Pháp những người sinh ra trên lãnh thổ Đông Dương có cha hoặc mẹ "không biết chính thức, légalement inconnu", "nhưng giả định là thuộc chủng tộc Pháp, présumé de race française". Trong bản án thế vì khai sinh của tác giả, không ghi "chủng tộc Pháp" mà ghi là "có quốc tịch Pháp", có lẽ do một nghị định sau này hiệu đính lại việc dùng từ "chủng tộc" không phù hợp với tinh thần của Cộng hòa Pháp.

(2) Nhắc lại là trong đệ nhị thế chiến, quân đội Nhật đóng tại nhiều nơi trên lãnh thổ Đông Dương, theo những thỏa thuận ký kết với chính phủ Pháp của thống chế Pétain ở Vichy. Nhật vẫn để nguyên cho Pháp cai trị thuộc địa này cho tới ngày "đảo chính Nhật" tháng 3-1945. Thật ra không phải là một cuộc đảo chính theo đúng nghĩa (tức là phe phái trong cùng một nước lật đổ nhau bằng võ lực), mà là một hành vi chiến tranh của một nước đối với một nước khác.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, đồng loạt tại các thành phố chính của Đông Dương, đại diện Nhật mời các cấp lãnh đạo Pháp đến dự tiệc lúc 19 giờ, tới nơi họ đưa tối hậu thư đòi quân đội Pháp phải hàng phục quân đội Nhật trước 20 giờ cùng ngày. Dĩ nhiên các cấp lãnh đạo Pháp không ai chấp nhận, tức thì quân Nhật bắt tất cả làm tù binh, kể cả Toàn quyền Pháp là Đô đốc Decoux. Sau đó, quân đội Nhật đồng loạt tấn công tất cả các nơi đồn trú của quân đội Pháp, chiếm giữ tất cả các cơ quan của Pháp, bắt làm tù binh từ cấp lãnh đạo xuống tới các viên chức Pháp trong guồng máy cai trị và tất cả quân nhân trong quân đội Pháp. Nhiều nơi chống cự, nhưng chỉ yếu ớt vì quân đội Nhật rất mạnh và đông hơn quân Pháp gấp bội (đây là quân đội Pháp thời thuộc địa có mặt trước 1945, rất khác với quân đội viễn chinh Pháp do tướng Leclerc cầm đầu có mặt từ 1945 đến 1956).

Một số quân nhân Pháp trốn vào rừng rồi cũng bị bắt, một số ở miền Bắc trốn được qua Tàu. Riêng tại thành Lạng Sơn (citadelle de Lang Son) được phòng thủ kiên cố, thêm ba đồn lũy bao bọc, được Pháp xây cất từ năm 1942 đến 1945 (có tên Pháp là fort Brière de L’Isle, fort Négrier và fort Gallieni) với pháo binh đồn trú. Lạng Sơn có một vị trí chiến lược ở biên giới Việt Trung nên quân Pháp tập trung rất đông tại đấy. Cũng như các nơi khác, cấp lãnh đạo Nhật ở đây mời quan đầu tỉnh Pháp là ông Auphelle và Đại tá Robert chỉ huy quân đội Pháp ở Lạng Sơn cùng tùy tùng đến dự tiệc lúc 19 giờ, và đưa ra tối hậu thư, rồi bắt toàn bộ các cấp lãnh đạo ở đấy làm tù binh.

Tướng Lemonnier chỉ huy trung đoàn đóng trên toàn vùng lúc đó vừa mới đến Lạng Sơn để thanh tra, nhưng không được mời, có lẽ vì quân Nhật không biết ông có mặt tại chỗ. Khi quân Nhật tấn công sau khi kêu gọi quân Pháp đầu hàng không được, tướng Lemonnier chỉ huy chống cự. Qua suốt một đêm và qua ngày hôm sau 10 tháng 3, trận chiến diễn ra ác liệt với tổn thất lớn cho cả đôi bên. Nhưng cuối cùng quân Pháp vẫn phải đầu hàng vì hết đạn dược và không có tiếp viện.

Trong những ngày tiếp theo, các tù binh Pháp bị Nhật tàn sát không đếm xỉa gì đến công ước Genève về tù binh. Tướng Lemonnier, ông Auphelle và một sĩ quan cấp úy bị đem ra chém đầu trước ba quân. Những tù binh khác bị mang đi thủ tiêu bằng đại liên, bằng gươm, bằng dao găm, bằng cuốc xẻng. Xác đẩy xuống hố tập thể, có nơi tẩm xăng đốt trước khi lấp đất. Nhờ có vài người sống sót vì giả chết mà sau này mọi người mới biết những vụ tàn sát đó.

6 tháng sau, Nhật đầu hàng Đồng Minh, chấm dứt thế chiến 2. Quân Đồng Minh trở lại Đông Dương nhận sự đầu hàng của quân Nhật và phóng thích tù binh Pháp. Riêng những sĩ quan lãnh đạo quân Nhật ở Lạng Sơn chỉ huy việc tàn sát tù binh Pháp bị đem ra xét xử như những tội phạm chiến tranh.

Thống kê sau đó cho biết riêng tại Lạng Sơn có 460 tù binh Pháp bị sát hại.

Con số thương vong tổng cộng, kể cả tử trận trong lúc giao tranh và bị sát hại sau khi bị bắt là 1125 người gồm 69 sĩ quan, 178 hạ sĩ quan, 271 binh sĩ Pháp, số còn lại là quân nhân người bản xứ (Việt, Miên, Lào).

footer_banner_5