Thứ ba, 12 18th

Last updateThứ 2, 17 12 2018 9pm

Lịch sử - Văn hóa

Cha Vô Danh: Hồi cư – "Dinh tê" – 1948 (P. 10)

 

"Cũng như trạm kiểm soát của Việt Minh trước đây khi tản cư, mục đích để xem có gián điệp của Pháp cài vào trong đám người tản cư hay không, các trạm kiểm soát của Pháp cũng không ngoài mục đích kiểm xem có cán bộ Việt Minh trà trộn vào đám người hồi cư hay không. Công việc này không dễ dàng tí nào, nhất là đa số người hồi cư không có giấy tờ tùy thân gì cả."

 

 

De_pre_inconnu-PhamNgocLan

.

."De Père Inconnu” (“Cha Vô Danh”) của tác giả Phạm Ngọc Lân được nhà xuất bản lớn L’Harmattan ở Paris xuất bản và phát hành đầu tháng 2-2015


 

1- 2- 3- 4- 5- 6- 7- 8- 9- 10- 11- 12- 13- 14- 15- 16- 17- 18- 19- 20-

 

 

***

 

Hồi cư –  "Dinh tê" – 1948

 

(Chuyện kể của người cha dượng)

 

Thế là cả gia đình lại lên đường chạy loạn, nhưng lần này khác với lần trước ở chỗ là cậu mợ đã là vợ chồng.

 

Đến nơi, một thôn xóm nhỏ trong tỉnh Phúc Yên, toàn nhà tranh vách đất. Cả gia đình được ông trưởng thôn đón tiếp niềm nở và cho ở nhờ chung nhà với ông ấy. Ông có nhà tương đối rộng rãi khang trang hơn mấy nhà kia nên cho mình tá túc ở một chái nhà.

 

Cậu có giấy giới thiệu của ủy ban kháng chiến ở Phú Thọ đến đây với một nhiệm vụ rõ rệt: dạy học. Gọi là dạy học nhưng thực ra là dạy "i tờ" trong chương trình "bình dân học vụ" để xóa nạn mù chữ. Tất cả người dân trong thôn này, không ai biết đọc biết viết cả. Cậu được gọi là "Anh Giáo".

 

Hồi đó chính quyền cách mạng đã hiểu được tầm quan trọng của việc biết đọc biết viết của từng người dân. Nếu không thì đất nước khó phát triển được. Họ đã phát động một chiến dịch rộng lớn xóa bỏ nạn mù chữ cho tất cả mọi người, nhất là ở nhà quê. Có cái may là chữ quốc ngữ rất dễ học, vì chỉ là chữ phiên âm từ tiếng nói mà ra, không như chữ Hán còn gọi là chữ Nho hay chữ "Thánh Hiền" rất khó học, chỉ dành cho một số ít người giỏi và có nhiều thì giờ mới học được. Ngày xưa nước mình cũng đã có chữ Nôm, nhưng chữ này còn khó hơn chữ Hán nữa, vì rắc rối hơn. Phải biết chữ Hán rồi mới học qua chữ Nôm, vì chữ Nôm dựa vào chữ Hán để dùng cho tiếng Việt (1).

 

Cậu dạy trẻ con ban ngày, và người lớn ban đêm. Ai cũng được khuyến khích đi học. Cậu được trả "lương" bằng gạo. Mợ con thì theo mấy người đàn bà con gái trong thôn đi "mò cua" ngoài ruộng lúa. Họ chỉ cho mợ cách bắt cua đồng, loại cua này màu nâu đen chỉ bé bằng hai ba ngón tay, sống trong hang dọc theo bờ đê, cửa hang nằm dưới mặt nước. Phải thò tay xuống nước lần mò theo bờ đê, khi thấy có cửa hang thì thò ngón tay vào trong hang, tìm cách làm sao cho con cua kẹp ngón tay mình rồi rút thật nhanh lên là bắt được nó. Dĩ nhiên bị cua kẹp tay thì đau lắm, nhưng không đau thì không có mà ăn, đơn giản vậy thôi! Nghĩ lại khổ thật!

 

Cua đồng là nguồn chất đạm cho người nghèo không có thịt cá mà ăn, hoặc có nhưng không đủ. Biết cách nấu riêu cua cũng ngon lắm. Phải giã con cua trong cối đá cho nhuyễn, rồi cho nước lã vào quấy lên, chắt nước cho vào nồi, làm như thế vài lần cuối cùng trong cối chỉ còn vỏ cua đem đổ đi. Khi nấu nước sôi lên thì các chất bổ béo của con cua nổi lên và kết lại thành một mảng trông mịn màng, rất ngon. Bây giờ người ta làm món bún riêu với nhiều gia vị, thời xưa ở nhà quê chỉ nấu cua với mấy loại rau hái trong vườn như rau đay, rau dền, rau rút, được bát canh thanh đạm, nhưng vừa ngon vừa bổ!

 

Con cũng muốn theo mợ con ra đồng chơi, nhưng mợ con sợ nên con phải ở nhà với cậu, khi cậu dạy học con ngồi trong góc học lóm. Con chưa được 4 tuổi mà con đã nhớ mặt chữ nhanh hơn mấy người nhà quê lớn tuổi, phải khổ sở học thuộc mặt chữ vì lớn tuổi rồi học đâu có dễ. Vì vậy mà ở bình dân học vụ, người ta nghĩ ra những câu lục bát cho người học dễ nhớ, kiểu như "i tờ có móc cả hai, i ngắn có chấm, tờ dài thêm ngang". Và thời bấy giờ mấy lớp xóa nạn mù chữ này gọi là "lớp học i tờ". Sau này còn có câu "i tờ rít" (i) để chỉ mấy người chỉ mới biết đọc biết viết qua các lớp này.

 

Chỉ mấy tháng sau con đã đánh vần để đọc được chữ quốc ngữ, tuy con chỉ hiểu được nghĩa của ít chữ thông thường. Vì chữ quốc ngữ chỉ dựa vào âm thanh phát ra khi nói tiếng Việt, nên mặc dù không hiểu nghĩa vẫn đọc được, nên rất dễ học theo cách đánh vần.

 

Ngoài ra, con cũng có khiếu về hát, con rất thích hát, nên mợ dạy con hát thuộc lòng mấy bài của kháng chiến thời đó. Cậu mợ nhớ mãi cảnh mấy anh bộ đội đi qua thôn nghỉ chân, con hát cho họ nghe "Bao chiến sĩ anh hùng, lạnh lùng vung gươm ra sa trường…" và "Bắc Sơn, nơi đó sa trường xưa, Bắc Sơn, đây núi rừng chiến khu…" (2). Thật lạ lùng cảnh bộ đội vây quanh đứa bé con 4 tuổi, mặt trông ra Tây hơn Ta, vừa hát những bài chống Tây vừa nhịp chân chẳng thẹn thùng gì cả!

 

Ngày qua ngày, cuộc sống đơn sơ, vất vả, nhưng đối với cậu mợ là cuộc sống hạnh phúc, vì tình thương trong gia đình giữa bà cậu mợ và con, và tình cảm của người dân trong thôn xóm đối với mình. Các "học trò" của cậu, ngoài gạo ra, cũng hay biếu "Anh Giáo" mớ rau, nải chuối, rổ khoai. Và trên hết, một tin vui đến với gia đình mình: mợ con có thai.

 

Trong hoàn cảnh bình thường thì đó chỉ đơn giản là một tin mừng, nhưng trong hoàn cảnh tản cư thời đó thì vừa là một tin mừng, vừa là một mối lo. Và mối lo lớn nữa là đằng khác! Con cũng biết là mợ con đã vào Sài Gòn sống từ năm 17 tuổi, đã được hưởng các tiện nghi của cuộc sống thị thành. Khi mợ con sinh ra con, mợ đến nhà bảo sinh, tuy không có bác sĩ nhưng cũng có bà mụ, nếu có gì bất trắc cũng có thể đưa vào nhà thương. Còn ở thôn xóm này, các bà mẹ phải sinh đẻ trong nhà mình, phải đi rước bà mụ tận ở làng xã nào đó xa lắm, có khi tự đỡ lấy nữa. Nhưng cái mà mợ sợ nhất là mợ không được sinh trong nhà mình ở trọ, mà phải ra bụi chuối mà đẻ. Sở dĩ như vậy vì có một niềm tin ăn sâu trong người dân, tóm tắt trong câu "sinh dữ tử lành": nằm mơ thấy người chửa đẻ là điềm xấu, nằm mơ thấy người chết là điềm tốt, và rộng hơn nữa, có người lạ đến nhà mình chết là hên, còn người lạ đến nhà mình sinh đẻ là xui.

 

Ở đây cậu không bàn đến chuyện dị đoan hay không dị đoan, chỉ biết là "nhập gia tùy tục", mình đến ở nhờ nhà người ta thì phải theo ý của chủ nhà, thế thôi.

 

Thế là từ đó, bắt đầu gieo vào trong đầu mợ ý tưởng "hồi cư". Sống hơn một năm trong vùng kháng chiến, những người bỏ nhà bỏ cửa đi tản cư như gia đình mình bắt đầu cảm thấy cuộc sống khó khăn và vô dụng. Chưa thấy dấu hiệu gì là kháng chiến sẽ thành công cả. Nên bắt đầu có những trường hợp bỏ vùng kháng chiến trở về quê cũ hoặc thành phố cũ, gọi là hồi cư hay là "dinh tê" (ii). Mợ bàn với cậu xem có cách nào tìm về Hà Nội được không, mợ nhất quyết là không thể nào sinh đẻ ngoài bụi chuối, mà không biết có mời được bà mụ hay không nữa chứ! Dĩ nhiên phải nói thầm với nhau thôi, hồi đó những người hồi cư bị Việt Minh xem là phản quốc, là Việt Gian (3). Họ tuyên truyền rỉ tai là những người về lại vùng Tây kiểm soát, đàn bà con gái bị bắt làm đĩ điếm, đàn ông con trai bị bắt làm lao công vác đạn cho lính Tây. Nhưng mặc cho những lời tuyên truyền và đe dọa đó, càng ngày càng có thêm người bỏ vùng kháng chiến về thành phố. Phải nói là ngoài một số cán bộ trung kiên, phần lớn những người tản cư đều nghĩ rằng thời gian sống tạm bợ chỉ ngắn hạn thôi, bây giờ thời gian kéo dài họ không biết làm gì để sống.

 

Thêm vào đó, những tin tức từ Hà Nội do những người đi buôn lén lút rỉ tai khác hẳn với những lời tuyên truyền của Việt Minh. Họ thì thầm rằng những người hồi cư về được chính quyền Pháp giúp đỡ tận tình để làm lại cuộc đời.

 

Ngày qua ngày, bụng mợ lớn dần, và cậu mợ không còn dùng dằng được nữa, phải dứt khoát tìm đường hồi cư. Muốn vậy phải tìm hiểu thật kỹ đường đi nước bước, tìm hiểu đi vào lúc nào và đường nào để tránh trạm kiểm soát của Việt Minh. Và quan trọng không kém là phải có sự đồng tình của người trưởng thôn cho mình tá túc. Một hôm cậu mợ làm liều trình bày với ông này sự thật, là mình có ý định hồi cư, và hồi cư không phải vì một lý do chính trị nào cả, mà chỉ vì mợ con có chửa, bụng đã bắt đầu to, mà tiếp tục ở đây thì mợ con rất sợ phải ra bụi chuối đẻ. Ông trưởng thôn rất thông cảm, và hứa sẽ lờ đi cho cả gia đình mình đi thoát.

 

Thế là một đêm, sau khi sửa soạn khăn gói, chào giã từ ông trưởng thôn, cả nhà lại lội bộ lên đường. Lần này là lần thứ ba, và cũng là lần nguy hiểm nhất vì phải đi ban đêm, phải tránh các trạm kiểm soát của Việt Minh.

 

Sau ba đêm phiêu lưu như thế, cả nhà đến trạm kiểm soát đầu tiên của Pháp trước khi vào Hà Nội. Cũng như trạm kiểm soát của Việt Minh trước đây khi tản cư, mục đích để xem có gián điệp của Pháp cài vào trong đám người tản cư hay không, các trạm kiểm soát của Pháp cũng không ngoài mục đích kiểm xem có cán bộ Việt Minh trà trộn vào đám người hồi cư hay không. Công việc này không dễ dàng tí nào, nhất là đa số người hồi cư không có giấy tờ tùy thân gì cả. Đó chính là trường hợp của gia đình mình.

 

Trong chuyến đi tản cư hơn một năm trước, con đã làm cho mợ con suýt bị nguy vì mặt con thấy rõ là Tây lai. Trong chuyến hồi cư về Hà Nội kỳ này, ngược lại con đã là nguồn mọi sự giúp đỡ của chính quyền Pháp, cũng vì cái mặt Tây lai của con!

 

_____________________________

 

(i) "i tờ rít" là một cách nhại tiếng Pháp có ý nhạo báng những người chỉ mới học xong lớp i tờ mà đã ra điều thông thái. Trong Pháp ngữ, "ite" là một tiếp vĩ ngữ (còn gọi là tiếp tố = suffixe) dùng trong nhiều trường hợp, thông dụng nhất là y khoa (appendicite = ruột thừa bị sưng) nhưng cũng dùng trong vài trường hợp khác, thí dụ để chỉ một dân tộc (Annamite = dân xứ Annam). Đặc biệt từ Annamite này chỉ dùng trong thời Pháp thuộc để chỉ người miền Trung (người miền Bắc là Tonkinois, người miền Nam là Cochinchinois). Sau này, người ta dùng chữ "Mít" thay vì "An nam mít" trong cách nói trào phúng để chỉ người Việt nói chung.

 

(ii) Câu "dinh tê" lấy từ tiếng Pháp "rentrer" có nghĩa là trở về.

 

(1) Chữ Nôm là loại chữ viết theo kiểu chữ Hán để dùng cho tiếng Việt. Khi đọc chữ Nôm, người đọc phát ra tiếng Việt (thí dụ "gió"), khác với chữ Hán khi đọc lên là tiếng Hán Việt, tức là tiếng Hán đọc theo kiểu Việt Nam (thí dụ "phong").

 

Chữ Nôm được cấu tạo dựa vào chữ Hán, bằng nhiều cách khác nhau. Một cách điển hình là ghép hai chữ Hán lại, một chữ gợi âm, một chữ gợi ý. Hiển nhiên là rắc rối hơn chữ Hán.

 

Chữ Nôm có từ khi nước Việt thoát khỏi thời kỳ Bắc thuộc với chiến thắng của Ngô Quyền năm 938. Nhưng loại chữ này chỉ thực sự phát triển trong văn chương từ thế kỷ 13.

 

Tác phẩm nổi tiếng nhất viết bằng chữ Nôm là Truyện Kiều của Nguyễn Du (1766-1820).

 

Nhưng các sử liệu cùng các văn bản hành chính của triều đình vẫn phải viết bằng chữ Hán, ngoại trừ mấy năm nhà Hồ (thế kỷ 15) và nhà Tây Sơn (thế kỷ 18) dùng toàn chữ Nôm.

 

Chữ Nôm cũng như chữ Hán từ đầu thế kỷ 20 được thay bằng chữ quốc ngữ.

 

(2) Hai ca khúc Chiến Sĩ Việt Nam và Bắc Sơn của Văn Cao (1923-1995) rất phổ biến trong thời kỳ kháng chiến. Tác giả của hai bài này nổi tiếng vì cũng chính là tác giả của bài Tiến Quân Ca được dùng làm quốc ca. Nhưng Văn Cao còn được biết đến như một nhạc sĩ lãng mạn với những ca khúc trữ tình xuất sắc sáng tác trước khi ông tham gia Việt Minh, điển hình là Thiên Thai, Trương Chi, Bến Xuân, Suối Mơ, v.v.

 

(3) Một bài báo nhan đề "Dinh tê" ký tên C.B., đăng trên báo Nhân dân, số 46, ngày 21-2-1952 viết về hiện tượng hồi cư có đoạn như sau: "Trong lúc xã hội thay đổi lớn, người mạnh dạn thì kiên quyết xông pha, vượt qua gian khổ, đi đến thành công. Người non nớt thì cầu an, tiêu cực, rồi thất bại. Kháng chiến ta trường kỳ và gian khổ, không khỏi có những người “dinh tê”". Và đoạn khác: "Trừ bọn Việt gian, nói chung những người “dinh tê” đều bị lương tâm cắn rứt, như người đã đào ngũ. Họ thấy tương lai của họ mờ ám. Trong lúc toàn dân đang đập vào mặt quân thù, họ cam lòng quỳ gối cúi đầu dưới gót sắt giặc. Đến ngày kháng chiến thắng lợi, họ sẽ “ǎn làm sao, nói làm sao”?" Bài lưu trữ trong "Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, 1950-1952", chứng tỏ tác giả chính là ông Hồ Chí Minh. Theo Trần Đĩnh trong quyển Đèn Cù (nhà xuất bản Người Việt Books, 2014) thì bút hiệu C.B. có nghĩa là "Của Bác".

 

 

footer_banner_5