Thứ sáu, 08 17th

Last updateThứ 5, 16 08 2018 6pm

Lịch sử - Văn hóa

Cha Vô Danh: Trở về quê ngoại - 1945 (P. 5)

 

"Sống ở Sài Gòn là thành phố lớn, không ai biết ai, còn về làng mợ con sợ không chịu nổi những lời đàm tiếu của người làng. Mợ con nói thà chết ở đây chứ không về làng. Bà phải thuyết phục là mợ muốn chết thì chết, nhưng mợ có bổn phận phải nuôi con cho con sống, mà nếu mợ sống một mình ở Sài Gòn thì lấy gì mà nuôi con?"

 

 

De_pre_inconnu-PhamNgocLan

 .

."De Père Inconnu” (“Cha Vô Danh”) của tác giả Phạm Ngọc Lân được nhà xuất bản lớn L’Harmattan ở Paris xuất bản và phát hành đầu tháng 2-2015

 

 

1- 2- 3- 4- 5- 6- 7- 8- 9- 10- 11- 12- 13- 14- 15- 16- 17- 18- 19- 20- 21- 22- 23- 24-

25- 26- 27- 28- 29- 30- 31- 32- 33- 34- 35- 36- 37- 38- 39- 40- 41- 42- 43- 44- 45- 46- 47- 48- 49-

 

 

***

 

Trở về quê ngoại - 1945

 

(Chuyện kể của bà ngoại)

 

Bà biết mợ con đã kể chuyện ngày xưa cho con nghe, bà cũng biết là mợ con rất ghét chuyện bà lấy ông Phó rồi hai người đi sang Lào sang Xiêm. Nhưng mà con cũng phải hiểu cho hoàn cảnh của gia đình mình lúc đó. Nếu bà không đi như thế thì mợ con suốt đời vẫn chỉ là một cô gái quê sống trong làng, mợ con sẽ chẳng biết gì về tất cả cái hay cái tốt cái đẹp ở những nơi khác. Và nhất là mợ con sẽ không có đứa con trai như con hôm nay. Nói gì thì nói, dù mợ con đã phải ngậm đắng nuốt cay vào thời đó, nhưng mà cuối cùng thì con đã làm hãnh diện cho gia đình. Con được học trường Pháp, con lại học giỏi, không thua gì con những gia đình danh giá giàu có. Nếu cứ ở ru rú trong góc làng thì có khi nào bà với mợ dám mơ ước có ngày có con cháu được học hành giỏi giang như thế!

 

Trở về chuyện khi mợ con biết là mang thai con, mợ con chỉ biết khóc ròng. Thời buổi đó, có con mà không có chồng là nhục nhã cho mình và cho cả gia đình họ hàng. Riêng mợ con thì khác vì đối với bà và gia đình, mợ con đã là gái có chồng, đã có trầu cau hẳn hoi. Nhưng phải thấy sự thật là mợ con đã bỏ chồng về lại với gia đình. Tức là có con mà vẫn không có chồng. Nhưng đau khổ thì đau khổ, cũng đành chịu thôi, biết làm sao? Suốt chín tháng mười ngày mợ con không muốn gặp ai, chỉ quanh quẩn trong nhà. Và nhất định là sẽ giữ con chứ không cho bà sơ ở viện mồ côi. Hồi đó, cảnh những bà mẹ có con lai khi sanh ra cho con cho bà sơ thường xảy ra. Mợ con thì không như thế.

 

Con sinh ra mươi ngày trước Tết năm 1944, nên con tuổi Quý Mùi. Nếu con sinh mươi ngày sau, qua Tết rồi thì con sẽ ẩn tuổi mẹ là tuổi Thân.

 

Độ hai tuần sau thì con được mang đi rửa tội ở nhà thờ Cầu Kho (i) là nhà thờ khu nhà mình ở. Mà con biết cha đỡ đầu con là ai không? Chính là bác Đoàn, người đã định lấy mợ trước kia mà không thành vì gia đình bác ấy không bằng lòng. Sau chuyện đó thì bác Đoàn đã lấy vợ, đã có con, nhưng vẫn giữ liên lạc tốt đẹp với gia đình mình. Bác Đoàn nhận làm cha đỡ đầu cho con, cũng là một điều an ủi cho mợ con trong lúc đó.

 

Có con rồi mợ con cảm thấy sống lại. Con kháu khỉnh, ai cũng thương, mợ thương bà thương đã đành, mà ông Phó cũng quý con lắm. Vì ông ấy chỉ có hai con gái, không có con trai, khi lấy bà hy vọng có đứa con trai nhưng vẫn không có, nên bây giờ cưng con như con trai của ông vậy. Bà con lối xóm cũng thích xoa đầu tóc màu nâu nhạt của con, họ cũng cưng con lắm. Họ không còn nghĩ tới những câu chê cười mợ con trước kia nữa. Người miền Nam có cái hay, họ dễ tính, dễ quên, dễ tha thứ.

 

Nhưng con mới được vài tháng thì cuộc sống của cả gia đình gặp khó khăn. Thật ra là khó khăn chung của mọi người trong thời cuộc lúc bấy giờ. Sài Gòn trước kia được gọi là "Hòn ngọc viễn đông", vừa đẹp đẽ, đời sống lại sung túc, nhưng qua năm 1944, chiến tranh thế giới giữa Mỹ và Nhật lan tràn nên máy bay Mỹ B24 và B26 ném bom liên miên, ngay ở Sài Gòn cũng bị bom hằng đêm (1). Bom nhắm vào quân đội Nhật, nhưng người dân cũng bị vạ lây. Vì vậy kinh tế bị trì trệ, ông Phó đang làm trong hãng thuốc lá Bastos bị cho nghỉ việc vì không còn nhiều việc làm, phải sa thải bớt nhân viên. Bà cũng mất việc vì các gia đình Pháp không còn tiền bạc rủng rỉnh để có thể mướn người may vá riêng trong nhà nữa.

 

Đêm đêm còi hụ báo động máy bay hú lên, thế là mọi người lại phải chạy ra ngoài đường xuống "tăng-sê" để tránh bom. Mợ con cũng phải ôm con chạy xuống hầm trú ẩn, mỗi lần nghe tiếng máy bay lại nằm rạp xuống lấy thân mình che chở cho con, giống như con gà mẹ che chở cho gà con dưới cánh của nó. Trong mấy xóm nghèo, gọi là hầm trú ẩn, thật ra chỉ là đào lề đường sâu xuống, đâu có mái che ở trên đầu, nếu có quả bom rơi vào đúng cái hầm thì chết nhiều lắm. Đã có cảnh đó rồi, chỉ cách nhà có hai con đường thôi, một quả bom rơi vào một cái "tăng-sê" làm mấy chục người vừa chết vừa bị thương.

 

Vì nguy hiểm như thế nên bà cố đi tìm một nơi trú ẩn ban đêm an toàn hơn. Bà đến nhà ông bà người Pháp là chủ cũ của bà, qua trung gian bà bếp vẫn còn làm ở đấy, để xin đến đêm tới ngủ nhờ. Khu phố Tây nên các hầm trú ẩn ngoài đường an toàn hơn, sạch sẽ hơn. Ông bà chủ cũng tốt bụng, cho cả nhà đến ngủ nhờ trong một căn phòng ở khu nhà ngang dành cho người giúp việc. Cứ tối tối, cơm nước xong, lại xách cái vali nhỏ đựng vài cái quần áo tã lót và giấy tờ hình ảnh quý nhất mang theo, đến ngủ nhờ trong cái nhà cảm thấy an toàn hơn khu nhà mình.

 

Một đêm, cũng như mọi đêm khác, cũng có còi báo động, cả nhà chạy ra ngoài đường vào trong hầm trú ẩn. Đêm đó báo động kéo dài khá lâu. Không ngờ quân gian lợi dụng lẻn vào nhà người Pháp ăn trộm trong khi mọi người còn ở trong hầm trú bom. Đến hừng sáng định trở lại lấy va-li đi về thì thấy có cảnh binh đang ở đấy làm "ăng-két", bà sợ quá vội vàng cùng cả nhà đi về không dám vào nhà nữa.

 

Đến trưa bà trở lại xem, thấy không còn cảnh binh ở đấy nữa mới vào để lấy lại cái va-li thì mấy người ở đấy cho biết cảnh binh đã mang theo làm tang vật, vì điều tra ra thì biết là đêm đó có người lạ mặt đến ngủ nhờ, như vậy chắc là tòng phạm với bọn ăn trộm. Họ nói bà phải đến bót cảnh sát để lấy lại cái va-li và để ông Cò lấy khẩu cung. Nghe thế bà sợ khiếp vía, hồi đó nghe tiếng cảnh sát hay mật thám đã sợ lắm rồi, huống gì còn phải đến bót nữa thì chắc chỉ có chết thôi chứ sống sao nổi nữa, nên đành bỏ mất cái va-li, trốn luôn không khi nào dám trở lại khu đó nữa (ii)!

 

Thế là mợ con mất tất cả hình ảnh thơ từ của ba con trong cái vụ lộn xộn đó! Mợ con cũng rất buồn về chuyện này, nhưng về sau cũng tự an ủi, chắc là trời xui đất khiến ra như vậy để mợ con cắt đứt tất cả mối liên lạc với ba của con, để sau này làm lại cuộc đời dễ dàng hơn chăng! Nhưng cũng thật là xui xẻo cho con, số của con sau này là chẳng còn biết mặt mũi cha mình ra làm sao nữa!

 

Chỉ ít lâu sau đó, không còn có thể trả tiền thuê nhà ở khu Cầu Kho nữa, cả nhà phải lên ở nhờ một người quen trên Bà Điểm (2), vùng ngoại ô phía bắc Sài Gòn. Ở đây nổi tiếng về nghề trồng trầu. Bà cũng quay ra làm nghề buôn bán trầu cau để tạm sống qua ngày.

 

Nhưng làm sao có thể sống lâu dài như thế được… Ông Phó phải lấy quyết định quay về làng ở ngoài Bắc. Chưa biết sẽ làm gì để sống nhưng ít nữa vẫn còn nhà cửa ngoài đó không phải ở nhờ ai. Bà Phó già vẫn ở đấy trông nom nhà cửa. Về đấy ít ra còn có họ hàng làng nước, nương tựa vào nhau mà sống.

 

Bà thấy ông Phó quyết định như thế là phải, nhưng mợ con rất sợ phải về làng mang theo đứa con mà không có chồng, nhất lại là con lai, tha hồ cho người đời thị phi. Sống ở Sài Gòn là thành phố lớn, không ai biết ai, còn về làng mợ con sợ không chịu nổi những lời đàm tiếu của người làng. Mợ con nói thà chết ở đây chứ không về làng. Bà phải thuyết phục là mợ muốn chết thì chết, nhưng mợ có bổn phận phải nuôi con cho con sống, mà nếu mợ sống một mình ở Sài Gòn thì lấy gì mà nuôi con?

 

Thế là cũng chỉ vì lo cho con mà mợ con đành quay trở lại làng cũ, sẵn sàng chấp nhận sự dè bỉu của làng xóm.

 

Bà lo bán tất cả cái gì còn bán được, rồi vơ vét tất cả tiền bạc dành dụm được bấy lâu nay để mua vé tàu hỏa trở về Bắc. Lúc đó con được 14 tháng, bà còn nhớ rõ. Tàu hỏa đi mất ba ngày mới đến nơi. Thời buổi đó đi đâu cũng nguy hiểm vô cùng vì máy bay Mỹ ném bom quân đội Nhật, ném bom cả các cầu cống để cản trở việc chuyển quân, việc tiếp tế. Khi có cầu bị sập lại phải "tăng-bo" (transbordement). Con tàu ngừng lại bên này cầu, mọi người đi xuống mang theo đồ đạc, rồi lếch tha lếch thếch đi bộ đến bến sông, dùng đò ngang qua sông, lại đi bộ một quãng nữa đến chỗ có chuyến tàu khác chờ phía bên kia cầu để đi tiếp. Thật là trần ai chuyến đi đó.

 

Cả nhà còn bị một phen hoảng vía tưởng là con chết ngộp rồi chứ! Đó là khi qua Đèo Cả ở vùng Đại Lãnh, phía ngoài Nha Trang (3). Tàu hỏa chui vào hầm Đèo Cả là hầm dài lắm, dài nhất trên quãng đường này. Hồi đó đầu máy chạy bằng hơi nước, nước nấu bằng củi, nên khói đen mù mịt. Mỗi khi vào hầm, khói bay vào trong toa, vì toa hạng ba đâu có cửa kính che kín đâu! Ai cũng muốn ngộp, phải quạt luôn tay, huống hồ là con mới có 14 tháng. Càng ngày khói càng nhiều, mọi người xúm lại quạt lấy quạt để cho con thở, mà con thì mặt mày bắt đầu tái xanh tưởng đã ngất đi rồi, may quá tàu hỏa kịp thời ra khỏi hầm con mới tỉnh táo lại. Sau này người ta nói là khi qua hầm có dốc nên phải hai đầu máy mới đủ mạnh, thường thì một đầu máy kéo phía trước và một đầu máy đẩy phía sau, nhưng lần này cả hai đầu máy dồn phía trước nên khói nhiều quá mới bị ngộp như thế. Bà cũng chẳng biết ất giáp ra sao, nghe người ta nói thế thì biết thế…

 

Cuối cùng thì sau ba ngày ba đêm trần ai cũng đến được ga Thường Tín, cách 19 cây số trước khi đến ga Hà Nội. Đây là nhà ga sát với làng Hà Hồi là nơi chôn rau cắt rốn của mọi người, chỉ có con là sinh ra ở Sài Gòn thôi. Sau hơn mười năm cách biệt, ông Phó trở về nhà cũ, gặp lại bà Phó già vẫn kiên nhẫn chờ đợi ông không một lời phiền trách.

 

___________________________

 

(i) Thời gian là sinh viên ở Sài Gòn đầu thập niên 60, tác giả tìm đến nhà thờ Cầu Kho gặp vị linh mục ở đây để xin giấy chứng nhận rửa tội, lúc đó mới biết chính xác ngày sinh là 14 tháng 1 năm 1944, và rửa tội ngày 30 tháng 1. Trong giấy chứng nhận viết bằng tiếng la-tinh, chép từ sổ bộ của nhà thờ, có tên người đỡ đầu, tên mẹ, và lần đầu tiên tác giả được đọc "Patre ignoto" là tiếng la-tinh, dịch sát nghĩa tiếng Việt là "cha không biết là ai"), tiếng Pháp là "Père inconnu". Thật ra, cụm từ này không chính xác, về phương diện pháp lý, viết là "cha không thừa nhận" thì đúng hơn. Nhưng trong giấy khai sinh tiếng Việt vẫn ghi là "Cha vô danh".

 

(ii) Thời Pháp thuộc, người dân dùng nhiều từ ngữ phiên âm thẳng từ tiếng Pháp. "Bót" là phiên âm của chữ Pháp "poste". Bót cảnh sát là poste de police. "Cảnh binh" (tên chính thức là Hiến binh) là Gendarme của Pháp (khác với Police ở chỗ là Gendarme có quy chế quân đội, còn Police thuộc bộ Nội vụ, tuy cả hai đều lo giữ trật tự an ninh). Người dân thường không phân biệt rạch ròi như thế, gọi chung là "cảnh binh" hay "đội xép" hay "cảnh sát". "Ông Cò" hay "Ông Cẩm" là phiên âm của "Commissaire", nghĩa là Trưởng ty cảnh sát. "Gendarme" cũng có phiên âm là "Sen đầm" (thường nghe thấy trong cụm từ "sen đầm quốc tế").

 

(1) Trong đệ nhị thế chiến, quân đội Nhật đóng tại nhiều nơi trên lãnh thổ Đông Dương, theo những thỏa thuận ký kết với chính phủ Pháp của thống chế Pétain ở Vichy (nước Pháp sau khi bị Đức quốc xã xâm lăng năm 1940 và thua trận, phải ký kết đình chiến với Đức, cắt nửa nước cho Đức, nửa nước còn lại phải dùng thành phố Vichy làm thủ đô thay vì Paris đã bị Đức chiếm đóng). Chính phủ Pháp ở Vichy phải phục tùng Đức, Đức là đồng minh của Nhật, nên Nhật vẫn để nguyên cho Pháp cai trị Đông Dương cho tới ngày "đảo chính Nhật" 9 tháng 3-1945 (sẽ nói đến sau trong cuốn sách này).Vì vậy khi Mỹ nhảy vào vòng chiến sau cuộc tấn công bất ngờ của Nhật vào cảng Pearl Harbor tháng 12 năm 1941, Đông Dương trở thành "đất địch" nên cũng là một mục tiêu oanh tạc của quân đội Mỹ trong trận chiến Nhật Mỹ ở Thái Bình Dương.

 

(2) Bà Điểm ngày nay là một xã thuộc huyện Hóc Môn, cách trung tâm Sài Gòn khoảng 10 km về phía tây bắc. Bà Điểm nổi tiếng có 18 thôn vườn trầu, trong những năm 30 bắt đầu được dùng làm hậu cứ cho đảng cộng sản nuôi dưỡng cán bộ.

 

(3) Đèo Cả là một ngọn núi từ dãy Trường Sơn chạy sát ra biển, ranh giới hai tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên, cách Nha Trang khoảng 100 km về phía bắc. Thời Lê Thánh Tông thế kỷ thứ 15, đây là biên giới giữa hai nước Đại Việt và Chiêm Thành (trước cuộc Nam tiến của dân Việt, biên giới này nằm ở Đèo Ngang giữa hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình). Hầm đường sắt qua Đèo Cả dài hơn 700 mét, là hầm dài nhất trên đường tàu "xuyên Đông Dương" từ Sài Gòn ra Hà Nội thời Pháp thuộc.

footer_banner_5