Thứ sáu, 08 17th

Last updateThứ 5, 16 08 2018 6pm

Lịch sử - Văn hóa

Cha Vô Danh: Cô gái mồ côi hận đời - 1934 (P. 2)

 

"Con đã biết rồi, nhưng mợ chắc con chỉ biết mơ hồ thôi. Đêm nay trời đẹp, ngồi ngoài sân mát dưới giàn thiên lý này, mợ muốn kể cho con nghe đầu đuôi câu chuyện với tất cả chi tiết, vì mợ nghĩ mợ có bổn phận phải cho con biết ít nhất là một lần trong đời. Đó là quyền của con được biết về nguồn gốc của mình, nhất là con năm nay đã 17 tuổi."

 

 

De_pre_inconnu-PhamNgocLan

.

"De Père Inconnu” (“Cha Vô Danh”) của tác giả Phạm Ngọc Lân được nhà xuất bản lớn L’Harmattan ở Paris xuất bản và phát hành đầu tháng 2-2015

 

1- 2- 3- 4- 5- 6- 7- 8- 9- 10- 11- 12- 13- 14- 15- 16- 17- 18- 19- 20- 21- 22- 23- 24-

25- 26- 27- 28- 29- 30- 31- 32- 33- 34- 35- 36- 37- 38- 39- 40- 41- 42- 43- 44- 45- 46- 47- 48- 

 

***

 

Cô gái mồ côi hận đời - 1934

(Chuyện kể của người mẹ)

 

Long ơi, năm nay con 17 tuổi, mợ (i) rất mừng con bắt đầu lớn khôn. Mới có một năm mà con đã cao bồng lên, chắc phải cao thêm hai mươi phân là ít! Con đậu được bằng tú tài 1, về đây nghỉ hè với bà, với cậu mợ với các em ở cái thành phố Kontum nhỏ xíu này. Vì nó nhỏ thế nên ai cũng thấy con đi chơi với bạn trai của con cùng lớp ở Đà Lạt về, và cũng có cả hai cô gái con ông Trung úy cùng đơn vị với cậu con. Hai cô gái xinh đẹp, lại tân thời, mợ không cấm đoán gì con cả, nhưng con phải coi chừng đó! Con dính vào đường tình ái là hết học hành luôn đó con nhé! Mà con cũng biết là cả nhà trông chờ vào con, mong con học thành tài…

 

Ừ thì thôi, mợ không nói chuyện đó nữa, con không cần phải phân trần phản đối mạnh như thế…

 

Đêm nay mợ muốn nói chuyện với con không phải về việc con đi chơi với bạn bè. Mợ muốn nói đến một chuyện quan trọng hơn nhiều, đó là chuyện về cha của con. Con cũng đã biết rồi, vì bà ngoại hay kể lại chuyện này, người mà con gọi bằng "cậu" không phải cha ruột của con. Nhưng con không biết ai khác hơn là cậu nên con vẫn xem cậu như cha ruột. Hơn nữa con mang họ của cậu con.

 

Con đã biết rồi, nhưng mợ chắc con chỉ biết mơ hồ thôi. Đêm nay trời đẹp, ngồi ngoài sân mát dưới giàn thiên lý này, mợ muốn kể cho con nghe đầu đuôi câu chuyện với tất cả chi tiết, vì mợ nghĩ mợ có bổn phận phải cho con biết ít nhất là một lần trong đời. Đó là quyền của con được biết về nguồn gốc của mình, nhất là con năm nay đã 17 tuổi. Con nghe câu chuyện của mợ để hiểu hồi đó mợ phải khổ tâm, phải chịu bao điều cay đắng như thế nào. Con nghe để con thương mợ, để con đừng oán trách hoặc coi rẻ mợ. Con đừng nói gì cả… Mợ cũng hiểu là con không khi nào có thái độ gì gọi là trách móc mợ, nhưng trong thâm tâm con… con nghĩ gì, mợ không biết được, con ạ! Mợ chỉ mong con vẫn thương mợ thôi.

 

Mợ mồ côi cha từ năm 13 tuổi. Bà ngoại con chỉ có một mình mợ, và lúc đó còn xuân sắc nên đã tái giá. Mợ rất giận bà ngoại về chuyện này. Giận không phải vì bà ngoại đi lấy chồng khác, mà giận vì bà ngoại tái giá trong một hoàn cảnh làm cho mợ trở thành mồ côi cả cha lẫn mẹ.

 

Quê của mợ là làng Hà Hồi, ngày xưa thuộc phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông, cách Hà Nội khoảng hai chục cây số về phía nam. Người bình dân gọi là làng Vồi. Các làng ngoài Bắc thời xưa thường có hai tên, một tên "chữ" là Hà Hồi, và một tên bình dân của người thông thường dùng, tức là làng Vồi. Làng này nổi tiếng vì thời vua Quang Trung mang quân từ trong Nam ra đánh đuổi quân nhà Thanh, đã chiến thắng hai trận Hà Hồi và Ngọc Hồi trước khi thắng trận Đống Đa.

 

Làng Hà Hồi là một làng tương đối giàu có vì trồng trọt các loại rau của Tây mang sang như khoai tây, cà-rốt, su-hào, súp-lơ… mang lên Hà Nội bán. Đặc biệt làng có phân nửa "lương" và phân nửa "giáo", hai bên sống hài hòa với nhau không có vấn đề gì cả. Đình làng rất to, nhà thờ cũng rất to.

 

Ông ngoại con là một người theo đạo công giáo (1) , tức là bên phía "giáo" của làng. Gia đình nghèo nhưng ông ngoại được theo tây học, nên tìm được một việc làm trong một tiệm buôn lớn của Pháp ở Hà Nội, thoát khỏi cảnh lam lũ của một nông dân. Ông ngoại suốt tuần ở lại Hà Nội, chỉ về nhà vào cuối tuần. Cũng rất tiện vì làng Hà Hồi gần ga Thường Tín, cách ga Hàng Cỏ của Hà Nội có 19 cây số.

 

Bà ngoại con thì ngược lại, sống bên phía "lương". Bà không biết đọc biết viết gì cả, như phần đông con gái trong làng thời đó. Bà cũng nhuộm răng đen như mọi cô gái khác, thời đó răng phải "đen màu hạt huyền" hay "đen nhánh như hạt na" mới là đẹp. Qua đến thế hệ của mợ, các thiếu nữ ra sống ở thành thị không muốn nhuộm răng nữa, dần dần đến ngày hôm nay tục lệ đó đã bỏ hẳn.

 

Bà vẫn thích kể là ông ngoại con khi đi trên đường đê thấy bà ngoại cấy lúa dưới ruộng cùng với nhiều người con gái khác, nhưng ông ngoại chỉ để ý đến bà vì chân bà trắng. Ngày xưa cấy lúa dưới ruộng nước phải xắn quần cao lên tận bẹn! Và thế là ông nhất định về nhà nói với cha mẹ cho người đi hỏi bà ngoại về làm vợ. Thời đó ở làng, đám cưới giữa hai bên lương giáo không phải là hiếm, nhưng bà ngoại phải theo đạo của chồng trước khi lấy nhau.

 

Hai ông bà rất mừng khi có con trai đầu lòng, bà vẫn kể lại là rất kháu khỉnh, nhưng tự nhiên mới đầy năm thì mất đột ngột. Không ai hiểu tại sao, nên chỉ còn đổ thừa cho thần linh nào đó thấy đứa bé đẹp đẽ thì "bắt về"! Vì vậy người ta kiêng không khen con mình đẹp, kiêng không gọi con mình bằng tên đẹp đẽ. Thường thì tên khai sinh rất đẹp nhưng chỉ dùng cho sau này khi đi học và khi đã trưởng thành, còn lúc bé thì gọi bằng một tên xấu xí như thằng Cu, cái Hĩm… để đừng có thần linh nào xấu tính để ý đến!

 

Mợ sinh năm 1921 sau khi bác con mất. Mợ được ông ngoại cho theo học trường các bà sơ sát bên nhà thờ. Thời buổi đó, con gái như mợ sống ở quê mà được đi học là chuyện đặc biệt lắm. Cũng đã bắt đầu một thời đại mới cho trai gái đều được đi học như nhau, nhưng sống ở thành thị mới được hưởng làn gió mới này, còn ở nhà quê vẫn theo nền nếp cũ, con gái không được đi học. Mợ được cái may mắn đó, lại rất thích học, ông ngoại mang từ Hà Nội về cho mợ tập vở, bút chì, bút mực… Nhưng mợ thích nhất là bút chì màu. Trong lớp có ai có bút chì màu đâu, có ai có bố làm việc trong một gian hàng lớn của Pháp ở Hà Nội đâu!

 

Nhưng chỉ được có vài năm, trong khi mợ đang mê mẩn tìm đọc mọi thứ có thể đọc được vì mới biết đọc biết viết, mợ không được học nữa vì người lớn sợ đọc nhiều quá sau này bị toét mắt ! Nói ra bây giờ nghe thấy thật buồn cười, nhưng hồi đó dân quê nhiều người lớn tuổi bị mắt toét, lý do là vệ sinh quá kém. Không biết người ta tin thật là đọc nhiều quá rồi sau này mắt bị toét, hay là chỉ lấy cớ dọa thế để không cho mợ học tiếp, vì quan niệm cổ hủ "con gái học nhiều để làm gì!" Chuyện này mợ nhớ mãi, suốt đời mợ còn hận không được học thêm trong khi đang trên đà háo hức việc học.

 

Và rồi một tai họa to lớn ập đến gia đình: ông ngoại bị ho ra máu, lúc đầu còn nhẹ, về sau thuốc thang không khỏi nặng dần phải nghỉ làm. Thế là bà ngoại phải tần tảo cật lực để có tiền sống lay lắt qua ngày. Thời bấy giờ bệnh lao hoành hành đâu có thuốc chữa, ông ngoại bịnh hai năm thì mất. Lúc đó mợ 13 tuổi.

 

Hồi đó trong làng có một ông làm phó cho ông lý trưởng, nên gọi là ông Phó. Ông có vợ gọi là bà Phó sinh được hai người con gái rồi bị hậu sản không sinh được nữa, nên ông Phó tìm một bà vợ thứ để mong có con trai. Ngày xưa có con trai là quan trọng lắm trong việc thờ tự, nếu vợ cả mà không có con trai thì chồng lấy thêm vợ lẽ là chuyện thường. Vả lại, đàn ông có hai ba vợ không phải là hiếm, nhưng chuyện không có con trai là một lý do chính đáng để lấy vợ lẽ mà không ai có thể bàn cãi vào đâu được.

 

Ông Phó nổi tiếng là một tay hào hoa phong nhã trong làng, hơn nữa với chức vụ của ông thì chẳng khó gì tìm vợ lẽ. Nhưng ông không tìm nơi khác mà lại nhắm đến bà ngoại của con. Phải nói là bà ngoại con tuy là người quê mùa nhưng nhan sắc khá mặn mà. Khi ông ngoại còn đang bịnh nặng, ông Phó thường lai vãng đến nhà thăm, mợ cũng đoán được ý đồ của ông Phó đến thăm bịnh nhưng thật ra là để gặp bà ngoại, nên ghét cay ghét đắng ông này. Phải chi ông ngoại mất rồi thì lại là một lẽ khác, đằng này ông ngoại vẫn còn bịnh nằm sờ sờ ra đó…

 

Và rồi việc gì phải đến cũng đến. Sau khi ông ngoại mất một thời gian, ông Phó lấy bà ngoại, và hai ông bà bỏ quê đi qua Lào làm ăn. Trong những năm 30 kinh tế rất khó khăn, nghe nói người Việt qua Lào buôn bán làm ăn khá lắm. Hai ông bà thu vén tiền bạc dành dụm được bao nhiêu mang theo để có vốn, gửi mợ lại cho bà Phó nuôi. Bà Phó từ đó được gọi là bà Phó Già, và bà ngoại con trở thành bà Phó Trẻ. Bà Phó Già là một người đàn bà chất phác hiền lành hiếm có. Mợ sống dưới mái nhà với hai người con gái của ông Phó là dì Phan và dì Đan, cả hai cũng hiền lành, nên phải nói là mợ không bị hành hạ hay phân biệt đối xử gì cả, như thường thấy xảy ra với mẹ ghẻ. Nhưng ở tuổi 13, tuổi mới lớn đang cần tình thương của bố mẹ, bố chết, mẹ lấy chồng khác bỏ con lại cho vợ cả của chồng mới, mợ hỏi con sao không giận cho được!

 

Và suốt đời mợ bị nỗi oán hận này ám ảnh…

 

____________________________

 

(i) Khoảng thời gian thập niên 40, 50, nhiều gia đình sống ở Hà Nội có cách xưng hô "cậu, mợ" thay vì "cha, mẹ". Sau đó vào Nam, vẫn giữ cách xưng hô này. Đây là cách đặc biệt của người Hà Nội thời đó, không phải của chung người miền Bắc.

 

(1) Trong nước hiện nay hay dùng "Thiên Chúa giáo" thay vì "Công giáo". "Giáo hội công giáo" dịch từ tiếng Pháp "Eglise catholique". Chữ "catholique" có nghĩa là "universelle", nên tiếng Việt dùng từ "công" là dịch sát nghĩa. Người ta có thể không chấp nhận chữ "công" này, nhưng nếu vì vậy mà gọi là "Thiên Chúa giáo" thì không chính xác vì "Thiên Chúa giáo" sẽ bao gồm cả Do Thái giáo, Ki-tô giáo (gồm Chính Thống giáo, Công giáo, Tin lành) và Hồi giáo vì tất cả các tôn giáo này đều tin và thờ cùng một Thiên Chúa.

footer_banner_5