Thứ sáu, 08 17th

Last updateThứ 5, 16 08 2018 6pm

Lịch sử - Văn hóa

Cha Vô Danh: Chạm trán với thực tế

 

BBT: Cuốn sách tiếng Pháp "De Père Inconnu” (“Cha Vô Danh”) của tác giả Phạm Ngọc Lân được nhà xuất bản lớn L’Harmattan ở Paris xuất bản và phát hành đầu tháng 2-2015. Sự ra đời của tác phẩm De Père Inconnu đã tạo nên một âm vang quý trong lòng dư luận Pháp, khi mà những câu chuyện về xứ Đông Dương kỳ bí ngày càng hiếm hoi. Nhưng De Père Inconnu không đơn thuần là một thể loại hồi ký, nói như cựu giáo sư sử học Pierre Brocheux của Đại Học Paris thì qua cuốn sách "người ta còn tìm thấy giá trị không thể chối cãi của một sử liệu."

 

Đó chắc chắn là một nguồn sử liệu đáng tin cậy của một giai đoạn lịch sử Việt Nam cận đại bi tráng. Thêm nữa, phải nói Cha Vô Danh còn là một nguồn tham khảo trên các lĩnh vực văn hóa xã hội học sống động cho các nhà nghiên cứu, và đặc biệt cho các thế hệ tương lai.  Các nhân vật có thực trong Cha Vô Danh cũng là những thân phận tiêu biểu của những người Việt Nam đã phải kinh qua hai cuộc chiến dài ba mươi năm đầy máu và nước mắt.

 

Ông Phạm Ngọc Lân dù có điểm xuất phát là giáo sư trường Đại học Dược Sài Gòn trước năm 1975, nhưng có niềm đam mê lớn với lịch sử, với văn hóa, xã hội học. Bằng chứng là sau khi ra nước ngoài ông đã có thời kỳ bỏ nhiều công sức sưu tập tài liệu, từ các kho lưu trữ được giải mật của các chính phủ Pháp và Mỹ, để làm luận án sử ở Đại học Paris. Cuốn sách vì vậy đã có một phần quan trọng ghi chú về lịch sử.

 

Với De Père Inconnu mất hơn 8 năm để viết, ngay sau khi hoàn thành Phạm Ngọc Lân đã bắt tay ngay viết bản tiếng Việt "Cha Vô Danh". Viết chứ không dịch, như chính tác giả xác nhận. Mục đích sau cùng là sẽ xuất bản sách Cha Vô Danh sau khi hoàn tất, nhưng ngay từ bây giờ tác giả Phạm Ngọc Lân tâm sự với chúng tôi là sẵn lòng chia sẻ ngay những trang viết tiếng Việt của Cha Vô Danh đến cộng đồng độc giả Việt Nam trong và ngoài nước.

 

Nếu De Père Inconnu tiếng Pháp được đánh giá là viết công phu, độc giả sẽ nhận thấy Cha Vô Danh tiếng Việt được viết không những công phu mà còn được chuyên chở bởi văn phong chính luận trong sáng nhưng đầy hấp lực.

 

Cha Vô Danh còn vẽ nên bức tranh tỉ mỉ của nền dân chủ phôi thai Việt Nam Cộng Hòa, dù còn nhiều khiếm khuyết nhưng đã là môi trường cho mọi cá nhân cơ hội vươn lên để thành công, như cá nhân chính ông. Tác giả thực sự cảm kích phúc lợi của một nền dân chủ, và mong muốn cho người dân Việt Nam được có tự do dân chủ. Nên điều dễ hiểu là ngay một người có "bản tính nhút nhát", và hơn nữa là người có tâm hồn nghệ sĩ bao la như ông đã lại không quản ngại đóng góp trong hàng chục năm cho tương lai dân chủ cho đất mẹ mến yêu.

 

Chúng tôi rất hân hạnh được tác giả vui lòng để cho Quê Nhà Carolina góp tay làm một nhịp cầu kết nối Cha Vô Danh với cộng đồng độc giả. 

 

 

De_pre_inconnu-PhamNgocLan

.

"De Père Inconnu” (“Cha Vô Danh”) của tác giả Phạm Ngọc Lân được nhà xuất bản lớn L’Harmattan ở Paris xuất bản và phát hành đầu tháng 2-2015

 

 

***

 

Phần thứ nhất

Thời thơ ấu

(trước 1962)


  1. Chạm trán với thực tế - 1961

 

Mới khoảng 10 giờ sáng mà nắng đã gắt. Trên quốc lộ 13 qua quốc lộ 14 từ Sài Gòn lên Ban Mê Thuột, chiếc xe đò chạy chậm lại khi tới đoạn đường qua khu Đồng Xoài. Đoạn đường xấu, xe xóc nhiều. Nhưng chàng thanh niên 17 tuổi chẳng để ý đến đường xóc, chẳng để ý đến bụi mù ở những đoạn đường bị tróc nhựa. Đầu óc chàng đang còn tràn ngập niềm vui sắp về nhà khoe với gia đình mảnh bằng tú tài 1 mới đoạt được một cách vẻ vang… Đó là năm 1961, bằng tú tài trong chương trình học còn chia làm hai phần, phải đậu tú tài 1 mới được lên lớp để học thi tú tài 2, còn gọi là “tú tài toàn phần”.

 

Chàng tưởng tượng nỗi vui mừng của mẹ và bà ngoại khi thấy con cháu mình đã “giật” được mảnh bằng tú tài, dù chỉ là tú tài 1! Ông dượng của chàng và đàn em cũng sẽ vui dĩ nhiên, nhưng không thể so sánh với niềm hân hoan chan chứa của mẹ và bà ngoại được. Khi chàng ra đời, hai người đàn bà này có khi nào dám mơ ước con cháu mình lại có một ngày mang về mảnh bằng “to” như thế, bằng tú tài! Mà lại là tú tài Pháp nữa chứ!

 

Chàng thầm mỉm cười khi nghĩ lại những lần mẹ chàng có dịp khoe con mình với các bà bạn. Mỗi lần như thế, nếu chàng có mặt thì chỉ muốn độn thổ cho xong! Sao mẹ mình có thể “ca” mình đến thế! Hồi đó mới có bằng trung học đệ nhất cấp thôi, bây giờ có tú tài rồi thì phải biết! Tú tài 1 hay tú tài 2 cũng thế thôi, bà đoan chắc con bà thi cái gì cũng đậu, đâu có biết là tú tài 2 nó trần ai hơn tú tài 1 như thế nào!

 

Sau khi có kết quả thi ở Đà Lạt, chàng về Sài Gòn ở nhà một người bạn nội trú học dưới một lớp. Người bạn này nhờ chàng chỉ bảo thêm môn toán trong năm học, và bây giờ cha mẹ của bạn mời “ông thầy” về chơi một tuần lễ.

 

Chín năm rồi chàng mới trở lại Sài Gòn. Từ Hà Nội vào Sài Gòn năm 7 tuổi, học có một năm ở đấy rồi lên Đà Lạt, nên chàng chỉ có những kỷ niệm đơn sơ của đứa trẻ biết Sài Gòn qua khu xóm Chợ Quán nơi mình ở và trên đường đi học được bà ngoại đưa đi đón về. Lần này trở lại nơi chốn cũ, chàng được sống trong một gia đình giàu có bên Khánh Hội – cha mẹ người bạn là thương gia xuất nhập cảng – được thưởng thức những cái hay cái đẹp của trung tâm một thành phố từng được mệnh danh là “Hòn Ngọc Viễn Đông”. Người bạn đưa chàng đi dạo phố Tự Do, Nguyễn Huệ, Lê Lợi, đi hóng mát bờ sông, vào xem xi-nê Majestic, ăn kem Givral… Và cũng thưởng thức những thứ bình dân hơn mà Đà Lạt xứ lạnh không có như nước mía Viễn Đông... Hai “kiosques” bánh mì Hương Lan và Bưu Điện mới mở trước cửa nhà Bưu điện, ngay bên hông nhà thờ Đức Bà, bánh mì dăm-bông (jambon) sao mà ngon thế! Tóm lại, những thú vui giản dị, nhưng đối với chàng vẫn là những khám phá mới.

 

Sáng sớm hôm nay, chàng mới chia tay bạn ở bến xe đò Ngã Bảy Sài Gòn để lên đường về Kontum. Gia đình lang bạt từ Sài Gòn lên Đà Lạt, ra Phù Cát rồi Quy Nhơn để cuối cùng lên Kontum. Ông cụ làm sĩ quan tài chánh cho một đơn vị của trung đoàn 40 sư đoàn 22 nên gia đình chẳng sống được ở đâu quá vài năm.

 

Đầu óc còn đang vẩn vơ những kỷ niệm tuần lễ vui chơi ở Sài Gòn, chàng giật mình khi tự nhiên thấy xe dừng lại giữa đường. Ngồi ngay cửa sổ hàng thứ hai của chiếc xe đò dài, lúc đó chàng mới để ý thấy trước mũi xe có ba người mặc đồ bà ba đen, đội nón tai bèo, tay ôm súng đứng ngang đường, và chỉ cho tài xế lái vào một con đường rừng phía tay phải. Khi xe đã vào con đường đất này rồi, một người khác, cũng đồ bà ba đen nón tai bèo, không mang súng nhưng cầm một trái lựu đạn giơ lên phía trước cốt cho mọi người thấy rõ, đến gần tài xế kêu mọi người kéo cửa sổ xuống rồi nói to: “Đồng bào đừng sợ, chúng tôi thuộc Mặt trận Giải phóng Miền Nam, chúng tôi không làm gì hại đến đồng bào cả. Chúng tôi chỉ muốn có dịp giải thích cho đồng bào chủ trương đường lối của Mặt Trận Giải Phóng mà thôi. Đồng bào nghe theo chỉ dẫn của chúng tôi sẽ được bình yên vô sự. Yêu cầu mọi người để hai tay lên lưng ghế phía trước, và giữ im lặng trong suốt thời gian xe di chuyển vào bên trong. Trong xe có ai là quân nhân hay cảnh sát, phải cho chúng tôi biết ngay. Tôi nhắc lại, trên xe có ai là quân nhân cảnh sát không?”

 

Mọi người im thin thít. Long nắm chặt hai tay vào phía trên của lưng ghế phía trước, cho họ thấy rõ là hai bàn tay không có cử chỉ gì nguy hiểm. “Ráng giữ bình tĩnh, ráng giữ bình tĩnh… “, chàng tự nhủ, nhưng tim vẫn đập loạn xạ, và mặt chắc là tái mét! Người mặc áo đen không có vẻ gì là đùa cả, và quả lựu đạn trong tay đưa ra phía trước dứ dứ cũng đủ làm hết vía những ai yếu bóng vía như chàng!

 

Không thấy ai tố cáo ai trên xe, người áo đen ra lệnh cho tài xế lái xe sâu vào trong rừng. Hai bên đường toàn là tre già khô héo quẹt loạt xoạt vào thành xe, đường đất với những ổ gà to như ổ voi làm nhíp xe kẽo kẹt thê thảm, dù đã đi chậm như rùa bò. Chắc ngày xưa đây là đường xe be chở gỗ trong rừng ra. Chiếc xe cứ thế từ từ tiến sâu vào vùng hoang dã…

 

Lòng hoang mang đến tột độ, chàng tự hỏi số phận mình và những hành khách trên xe này sẽ ra sao. Cũng như bao người dân khác, gần đây chàng được nghe loáng thoáng về một tổ chức có tên Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (1), bắt đầu hoạt động chống chính phủ bằng võ lực. Các phương tiện truyền thông của nhà nước cho biết tổ chức này được những người cầm đầu đảng Cộng sản ở Hà Nội dựng lên để chuẩn bị cho một cuộc nổi dậy trong Nam với sự tiếp sức của quân đội ngoài Bắc len lỏi vào từ bấy lâu nay. Mục đích là áp đặt chế độ cộng sản trong Nam, cũng như họ đã áp đặt chế độ này ngoài Bắc từ khi đất nước chia đôi năm 1954. Cũng có những lời đồn đãi thì thầm rằng họ là những người yêu nước chống lại chính phủ Sài Gòn vì chính phủ này chỉ là con bài của Mỹ. Thật ra thì Long chẳng để ý gì đến những chuyện chính trị cao xa này, chàng sống nội trú trong tháp ngà của một nhà trường ở Đà Lạt, sống với cái may mắn là chỉ phải lo học hành, tránh xa những phức tạp của cuộc sống chung quanh. Vậy mà không ngờ, hôm nay chàng lại giáp mặt với những người tự xưng thuộc tổ chức này!

 

Không biết xe chạy bao lâu trên con đường rừng như thế – đầu óc hoảng loạn không còn ý niệm gì về thời gian – bỗng nhiên mở ra một khoảng trống rộng lớn giữa rừng. Và ngạc nhiên : hàng chục chiếc xe đò to nhỏ đã đậu chung quanh vòng tròn đó, hàng mấy trăm người đã ngồi bệt dưới đất thành vòng tròn. Nỗi lo sợ bỗng xuống một cấp, làm như loãng ra vì được hòa đều trong đám đông! Quang cảnh như một bến xe đò, chỉ khác là không có tiếng ồn ào của hành khách chào hỏi nhau lúc chia tay, cũng chẳng có tiếng hàng quà rao huyên náo, hay tiếng những người lơ xe đua nhau mời khách! Chỉ có tiếng xầm xì của những con người bị du vào một hoàn cảnh chưa từng thấy, những hành khách bị ép buộc vào khu rừng này…

 

Nhiều người áo đen mũ tai bèo vai khoác súng đi qua đi lại. Một người đến chiếc xe của Long ra lệnh cho tài xế đậu vào một chỗ trống, và kêu mọi người xuống xe, ngồi xuống đất. “Đồng bào giữ trật tự! Không nói chuyện!”

 

Sau đó đến mục kiểm tra giấy tờ. Thời xưa cũng như sau này, ở Việt Nam, một người trưởng thành đi ra khỏi nhà phải có giấy tờ tùy thân. Trong thập niên 60, đó là thẻ kiểm tra cho các công dân trên 18 tuổi. Học sinh chưa tới 18 tuổi thì dùng thẻ học sinh. Long cũng có thẻ học sinh, đi đâu cũng phải mang theo. Đến khi lấy tấm thẻ trong ví ra, chàng mới chợt hoảng: đây là tấm thẻ của trường trung học Adran ở Đà Lạt, một trường của « Thầy dòng » thuộc giáo hội Công giáo, dạy chương trình Pháp, cấp cho niên khóa 1960-61. Thẻ mang tên Hoàng Kim Long sinh ngày 20 tháng 11 năm 1944, con của ông Hoàng Văn Quy và bà Lê Thị Kim, học sinh lớp “Première”. Trường của một tôn giáo du nhập từ phương Tây, tên trường bằng tiếng Pháp, tên lớp cũng tiếng Pháp, dạy chương trình Pháp, chàng chợt tái mặt: mấy ông áo đen này là “cách mạng” sẽ phản ứng ra sao với một tên lai Pháp, học trường Pháp?

 

Người áo đen xét giấy vẫn từ từ, từ từ tiến dần đến… Xem xét kỹ giấy tờ của từng người. Chỉ còn hai người nữa đến phiên chàng. Tim đập càng ngày càng mạnh, bụng đánh lô-tô như chưa từng thấy ! Nhưng làm sao bây giờ? Cuối cùng cái gì phải đến vẫn đến: chàng lấy hết can đảm làm mặt thản nhiên đưa tấm thẻ học sinh cho người áo đen, chuẩn bị sẵn trong đầu những lời giải thích sao cho xuôi gọn… Nhưng người áo đen chỉ xem lướt qua và trả lại tấm thẻ không nói một câu nào! Tự nhiên chàng cảm thấy cần làm một chuyện mà lâu lắm chàng không nghĩ tới: “Cám ơn Trời Chúa Phật và ông bà tổ tiên đã phù hộ cho con!”

 

Chàng thở phào, nhẹ hẳn người! Nhưng suy cho cùng, tại sao những người này lại cần chú ý đến một tên học sinh 17 tuổi miệng còn hôi sữa? Chàng có tự cho mình là quan trọng quá không? Mấy người áo đen chẳng nói ngay từ đầu là họ chỉ muốn biết ai là quân nhân và cảnh sát là gì? Việc qua rồi thì nói cứng như thế dễ quá!

 

Trong thời gian xét giấy đó, vẫn có thêm những chiếc xe khác tiến vào khoảng trống. Các thủ tục cũng lặp lại như thế. Càng ngày Long càng bớt sợ. Tâm lý đám đông…

 

Cuối cùng có một người áo đen tiến vào giữa vòng tròn mang theo một cái thùng gỗ, úp xuống cỏ và leo lên, bắt đầu nói: “Xin đồng bào giữ im lặng! Xin đồng bào giữ im lặng! Chúng tôi là những người thuộc Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Chắc đồng bào cũng đã nghe tuyên truyền của ngụy quyền Sài Gòn rằng chúng tôi là quân khủng bố, nhưng đồng bào thấy đó, chúng tôi không xa lạ gì với đồng bào, chúng tôi là con em của đồng bào, là người láng giềng của đồng bào…”

 

Và cứ thế, người áo đen đứng trên bục thao thao bất tuyệt về những hành vi xâm lược của Đế quốc Mỹ, về ngụy quyền Sài Gòn tay sai, cố tình chia cắt đất nước. “Mặt trận Giải phóng quy tụ những người yêu nước tranh đấu cho đất nước được thống nhất, cho đất nước không còn dấu vết của ngoại xâm…”

 

Thời gian trôi qua, người thứ nhất nói xong lại đến người khác lên bục nói thay. Nội dung vẫn tương tự… Chàng không còn tập trung tư tưởng để chú ý nghe được nữa, chỉ còn cảm thấy khát khô cổ và bụng bắt đầu đói cồn cào…

 

Nhưng cuối cùng việc gì rồi cũng phải có kết thúc. Những lời tuyên truyền hoa mỹ cũng cạn dần. Mọi người lắng nghe một tiếng máy bay từ xa vọng lại, càng ngày càng gần, và cuối cùng ai cũng nhìn lên hai chiếc trực thăng mới xuất hiện trên cao bay vòng vòng quan sát khoảng đất trống giữa rừng với mấy chục chiếc xe đò đậu vòng tròn. Người nói trên bục vội bước xuống, và hành khách được lệnh lên xe đi ra khỏi khu rừng. Cũng may mà các tài xế còn có tinh thần trật tự, các xe tuần tự di chuyển mà không chen lấn nhau trên con đường đất chật hẹp chỉ một chiếc xe đi vừa. Khi xe bắt đầu lăn bánh, chàng thấy các người áo đen mũ tai bèo ôm súng lần lượt đi sâu vào trong rừng, dắt theo vài người đàn ông tay bị trói quặt sau lưng. Số phận họ rồi đây sẽ ra sao?

 

Chiếc xe đò bị chặn lúc 10 giờ sáng, khi ra khỏi khu rừng trở lại quốc lộ 14 thì đã 3 giờ chiều. Xe không thể đến kịp Kontum vào buổi tối như dự trù vì tình trạng giới nghiêm, ban đêm không có xe nào được chạy cả. Chàng phải ngủ lại ở Ban Mê Thuột, thành phố đầu tiên trên miền cao nguyên nằm trên quốc lộ 14. Với số tiền dằn túi ít ỏi, chàng ăn một đĩa cơm với thịt kho và uống ly trà đá rẻ tiền của bà hàng ngay bến xe. Sau đó thuê một chiếc ghế bố có cái mùng trong căn nhà chợ dùng làm nơi nghỉ ngơi cho các bạn hàng lỡ đường. Đúng là cảnh “ăn đường ngủ chợ”!

 

Sáng hôm sau, xe tiếp tục chạy đến Pleiku cách đó 150 cây số, rồi thêm 40 cây số nữa đến Kontum.

 

Chàng thanh niên 17 tuổi sẽ còn nhớ mãi câu chuyện bị lùa vào rừng, một câu chuyện hi hữu chỉ xảy ra trong thời gian Mặt trận Giải phóng mới thành lập mà thôi. Đây là cuộc “chạm trán với thực tế” đầu tiên của chàng.

 

Và cũng không phải là duy nhất: sau này chàng sẽ còn phải chứng kiến – và có khi phải tham gia trực tiếp – nhiều biến cố khác nữa!

 

_________________________

 

(1) Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (gọi tắt là Mặt Trận Giải Phóng, MTGP) được thành lập ngày 20 tháng 12-1960 trong một vùng gần Tây Ninh, phía bắc Sài Gòn. Ủy ban lâm thời có chủ tịch là ông Phùng Văn Cung và tổng bí thư Nguyễn Văn Hiếu. Trong lời kêu gọi có đoạn “Hãy siết chặt hàng ngũ để chiến đấu dưới ngọn cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và Ngô Đình Diệm.”

 

Những khuôn mặt nổi được biết đến nhiều nhất là luật sư Nguyễn Hữu Thọ và kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, chủ tịch và phó chủ tịch. Nhưng từ 1967, lãnh đạo chủ chốt là một ủy viên Bộ chính trị đảng cộng sản, ông Phạm Hùng, với chức vụ Bí thư Trung ương Cục miền Nam.

 

Sự ra đời của MTGP nằm trong kế hoạch được quyết định ở Hà Nội trong Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng Lao Động (tên của đảng cộng sản lúc bấy giờ) họp từ ngày 12 đến 22 tháng 1-1959. Việc đầu tiên thực hiện nghị quyết của Hội nghị là thành lập đoàn 559 (tên lấy từ tháng 5 năm 1959), một lực lượng vũ trang đi tiên phong trong việc khai phá mở đường mòn Hồ Chí Minh để chuyển quân vào miền Nam.

footer_banner_5