Thứ năm, 08 16th

Last updateThứ 4, 15 08 2018 10pm

Du lịch

Tộc người Ơ Đu ở Nghệ An đang có nguy cơ biến mất

 

Tộc người Ơđu (Phrom Ơ đu)  ở Tương Dương (Nghệ An)  là một trong số 5 tộc người có dân số ít nhất Việt Nam hiện nay. Người Ơ đu  từng có lịch sử đáng tự hào, tộc người này có dân số khá đông, họ từng có cát cứ địa lý riêng, không sống xen lẫn bất cứ tộc người nào. Qua biến thiên của lịch sử tộc người này chỉ còn trên danh nghĩa, thực tế họ đang dần biến mất.

 

                                    

Khám phá Việt Nam - Người Ơ Đu ở Tương Dương

 

Từ những giả thuyết về lịch sử.

 

Cho đến nay mọi nghiên cứu về nguồn gốc lịch sử của tộc người Ơđu(Phrom Ơ đu) ở Tương Dương của các GS. Đặng Nghiêm Vạn, Trần Trí Dõi, Phan Huy Lê hay TS. Nguyễn Đình Lộc mới chỉ dừng lại ở sự đoán định.

 

Theo GS. Đặng Nghiêm Vạn thì qua những câu chuyện kể lại của người cao niên ở Xốp Pột, Kim Hòa,  xã Kim Đa (1) thì người Ơđu có dân số khá đông, họ sinh sống ở cả một vùng rộng lớn bao gồm lưu vực sống Nậm Nơn, Nậm Mộ và một phần ở trên đất Lào. Họ sống độc lập, không xen kẽ với bất cứ tộc người nào. Ở Việt Nam có nhiều trung tâm văn hóa của tộc người Ơ đu như Xiêng Tắm(2), Xiêng Lăm (3), Xiêng Men (4) của huyện Tương Dương. Họ có bộ máy "nhà nước" cai trị, lấy đá đắp thành lũy, rồi trồng tre gai bao bọc xung quanh. Ngày nay, những dấu vết lịch sử về cát cứ địa lý của người Ơ đu xưa vẫn còn, đó là di tích thành lũy bằng tre ở xã Hữu Khuông (Tương Dương).

 

Qua nghiên cứu về lịch sử hình thành và tồn tại của Tiểu quốc Bồn Man của người Tai Phuan  xưa (khoảng từ thế kỷ 14-18) thì có thể đoán định rằng tộc người Ơđu xưa thuộc Tiểu quốc Bồn Man (bao gồm Xiêng Khoảng,Hủa Phăn [Lào] và các huyện miền núi phía Tây Nghệ An ngày nay). Tộc người Ơ đu xưa có một xã hội khá phát triển. Họ sống độc lập, có "nhà nước", có nô lệ và nhiều bầy voi, có vua cai trị (Thủ phủ của họ ở đâu thì chưa có nghiên cứu nào xác định, chỉ đoán định là ở xã Kim Đa). Họ sống bằng nghề làm ruộng, phát nương làm rẫy, đào đãi vàng, chài lưới, và buôn bán trên sông, những địa danh như Xiêng Tắm, Xiêng Lăm, Tạ Xiêng... luôn tấp nập thuyền bè xuôi ngược.  Năm 1478, Lư Cầm Công thủ lĩnh của Bồn Man cấu kết với Lão Qua (Lan Xang) làm loạn, quấy nhiều vùng đất Tây Nghệ An [ngày nay], vua  Lê Thánh Tông cử 2 tướng là Lê Thọ Vực và Trịnh Công Lệ đem quân sang dẹp. Cầm Công bị giết chết, Lê Thánh Tông sáp nhập Bồn Man vào Đại Việt và đặt tên là xứ Trấn Ninh, rồi cử Lư Cầm Đông (họ hàng với Cầm Công) quản lý. Gặp phải thời loạn lạc, tộc người Ơ đu bị tan tác. Về sau, những người đứng đầu của các nhóm Ơ đu lại tụ họp nhau tại núi Pú Pầu thuộc lưu vực 2 con suối Huồi Puông, Huồi Xan, xã Kim Đa (Tương Dương, Nghệ An).

 

Sau khi Bồn Man thuộc về Đại Việt, những cuộc thiên di tìm đất sinh sống của người Thái, Mông, Khơ mú từ Tây Bắc, Lào tràn sang. Những cuộc nội chiến để tranh giành đất sinh sống bắt đầu từ đây. Dân số ít, thế lực yếu người Ơđu lại bị dồn vào nơi đầu suối, ngọn khe. Để tránh nguy cơ bị diệt vong, một bộ phận người Ơ đu phải bỏ tiếng nói, tên gọi, phong tục, tập quán của mình, sống đan xen, lệ thuộc vào người Thái, Khơ mú. Những truyền thuyết của người Thái, Khơ mú đều khẳng định vùng đất thượng nguồn Nậm Nơn, Nậm Mộ  xưa đều là đất do người Ơ đu khai phá, những cái tên hang động, tên suối, ngọn núi còn mang đậm thanh âm của tiếng Ơ đu. Mất đất, người Ơ đu phải làm thuê, cuốc mướn cho chúa mường, chúa bản của người Thái. Họ bị áp bức, chèn ép về tinh thần và cướp đoạt về địa vị kinh tế, phải chịu cuộc sống khổ cực, cái tên Tày Hạt (theo tiếng Thái là người rách rưới hay đói rách) cũng xuất hiện từ đó.

 

Sau cách mạng Tháng Tám, các dân tộc được sống bình đẳng, đồng bào Ơ đu quy tụ về sinh sống ở bản Xốp Pột, Kim Hòa, xã Kim Đa, một vài hộ sinh sống rải rác ở bản Tạ Xiêng, xã Kim Tiến (5), bản Xiêng Hương, xã Xá Lượng (Tương Dương, Nghệ An). Tuy nhiên, thế hệ con cháu tộc người Ơ đu ở vào thời điểm đó kể cả người già nhất cũng đã quên hết ngôn ngữ, phong tục tập quán của mình.

 

Năm 2006, phải nhường đất cho việc xây dựng công trình thủy điện Bản Vẽ, đồng bào Ơ đu ở Xốp Pột, Kim Hòa lại tiếp tục cuộc thiên di lịch sử về sinh sống tại bản Văng Môn, xã Nga My, huyện Tương Dương. Hiện nay, dân số của tộc người Ơ đu ở Tương Dương khoảng hơn 600 người.

 

Theo kết quả khảo sát mới đây nhất của Ban Dân tộc Nghệ An thì ở bản Khạp, huyện  Mường Khun (Muang Khoun), tỉnh Xiêng Khoảng (Xieng Khouang, Lào) tộc người Ơ đu đang sinh sống tập trung đông nhất, dân số khoảng 48 hộ, 242 người. Ngày 23/9/2013 đoàn đại biểu Ơ đu của bản Khạp, huyện Mường Khun (Lào) do ông Khăm Phổng-Phó Chủ tịch thường trực Mặt trận Lào xây dựng đất nước tỉnh Xiêng Khoảng làm trưởng đoàn sang thăm huyện Tương Dương. Tôi đã trò chuyện với anh Khăm Đí - Bí thư, Trưởng bản Khạp và thày mo Khăm Mằn (chầu chăm hịt khong ơ đu), được biết dân số Ơ đu trên đất Lào cũng không nhiều, chỉ độ vài trăm người, sinh sống rải rác ở một số bản của Mường Khun đầu nguồn sông Nậm Mộ (Việt Nam), hầu hết người Ơ đu ở đây đều có nguồn gốc từ xã Kim Đa, huyện Tương Dương (Việt Nam), còn sang Lào vào thời gian nào thì không còn nhớ nữa.

 

Đến văn hóa, phong tục tập quán và tín ngưỡng đang biến mất

 

Lịch sử đã khẳng định, người Ơ đu đã từng có ngôn ngữ riêng. Ngôn ngữ Phrom Ơ đu thuộc  nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me (ngữ hệ Nam Á). Về chữ viết thì cho đến nay chưa hề có ai khẳng định họ đã từng có chữ viết riêng hay không. Các thế hệ Phrom Ơ đu còn lại bây giờ đã quên hết tiếng nói, họ không còn nhớ cả phong tục tập quán. Một số rất ít ỏi (5 người, tuổi đã trên 80) còn nói được khoảng dưới 100 từ, và ngay cả những từ, ngữ họ còn nhớ được cũng đã có sự pha trộn của ngôn ngữ Thái, Khơ mú. Trong những năm qua, huyện Tương Dương đã có rất nhiều nỗ lực trong việc khôi phục tiếng nói của người Ơ đu, mỗi năm mở 2 lớp dạy học bằng hình thức truyền miệng. Tuy nhiên, việc bảo tồn ngôn ngữ của họ gặp không ít khó khăn bởi ngay chính bản thân tộc người Ơ đu ở đây chưa có ý thức bảo tồn nòi giống, họ không còn thói quen dùng tiếng của mình để giao tiếp trong sinh hoạt.

 

Cụ Lo Văn Mằn- Nguyên Phó Chủ tịch UBND huyện vẫn thông thạo nghề đan lát

 

Người Ơ đu tính thời gian trong năm bắt đầu từ ngày có tiếng sấm (chăm phtrong) đầu tiên. Đây là tập tục cổ xưa của các dân tộc thiểu số quen sống bằng nghề trồng trọt. Đối với tộc người Ơ đu, lễ mừng tiếng sấm năm mới là lễ hội lớn nhất trong năm, bà con tổ chức rất long trọng, giết trâu, mổ lợn ăn uống linh đình. Nghi lễ đầu tiên trong ngày chămphtrong là phong sắc, phong tước  cho các chức sắc trong bản như trưởng họ, già làng, các chức sắc trong giới thày mo và đổi tên cho những người đàn ông đã trưởng thành (có con cháu đầy đàn). Những nhà có người chết trong năm thì mời thày mo (doang xơ rơi) về nhà làm lễ tiến linh hồn người chết về với tiên tổ, đồng thời tiến hành làm nghi lễ bỏ tang cho người góa bụa, sau lễ mừng tiếng sấm họ có thể đi bước nữa. Những đứa trẻ sinh trong năm, đến ngày chăm phtrong được các thày mo đến nhà làm lễ nhập họ và chính thức đặt tên. Cũng trong lễ chămphtrong, thày mo tổ chức làm lễ cưới vợ, cưới chồng cho những người đàn ông, đàn bà đã chết. Vì theo quan niệm của người Ơ đu, người chết rồi nhưng vì thương nhớ người còn sống cho nên vẫn lẩn quất bên cạnh họ, những khi đó người chồng, hay người vợ còn sống thường bị đau ốm triền miên.

 

Lễ đón mừng tiếng sấm năm mới thường kéo dài cho đến khi xong xuôi mọi công việc quan trọng trong bản thì lễ hội mới kết thúc, nói chung thì từ 3 đến 7 ngày. Khoảng những năm 50 (thế kỷ XX) về trước đồng bào Ơ đu khắp nơi thường tụ họp về Xốp Pột (Kim Đa) để vui hội chămphtrong, vì theo họ nghĩ vua của người Ơ đu đã từng đóng đô ở đó. Họ giết trâu, mổ bò, lợn, uống rượu cần, ca hát, nhảy múa, chơi các trò chơi như đánh khăng, chọi gụ, chọi gà, đi kà kheo... rất từng bừng. Ngoài lễ đón sấm đầu năm (chăm phtrong), người Ơ đu còn tổ chức lễ rước hồn lúa và ăn cơm mới.[Về sau này còn có cả ăn tết Nguyên đán theo người Kinh]

 

Người Ơ Ðu không có nhạc cụ riêng biệt mà họ sử dụng thành thạo các loại nhạc cụ của người Khơ Mú, Thái như: sáo, khèn, chiêng, trống; thuộc các làn điệu dân ca Khơ Mú, Thái (xuối, nhuôn, lăm, tơm). [Tuy nhiên, đây là cho đến giai đoạn sau cho đến hiện nay, trước đây không rõ].

 

Người Ơ đu [hiện nay] quan niệm về thế giới bên kia gần giống như người Thái, ngoài các then như Then Luông, Then Vi, Then Bắc còn có thêm Then Na cai quản ruộng nương. Họ cho rằng những người bị hổ ăn thịt, hay chết hoặc mất tích trong rừng không phải do ma rừng bắt mà Then Na bắt đi làm lính hầu trông coi ruộng nương. Theo người Ơ đu thì linh hồn của con người trú ngụ ở 2 nơi, một là nơi chỏm tóc, hai là ở nơi thân xác. Vì vậy, người ta tuyệt đối không được xoa đầu đứa trẻ vì làm như vậy hồn sẽ sợ và đi mất, khi đó đứa trẻ sẽ ốm đau. Họtin rằng khi người chết, hồn biến thành ma. Hồn nơi thân thể thì ngụ ở bãi tha ma, còn hồn nơi chỏm tóc thì ở lại làm ma nhà. Ma nhà chỉ ở với con cháu một đời theo thứ tự từ con trai cả đến con trai thứ. Khi các con trai đã chết hết, người ta làm lễ tiễn ma nhà về với tổ tiên. Nơi thờ ma nhà tại góc hồi của gian thứ hai. Bàn thờ đơn giản, treo cao sát mái nhà, ở đó có 1 cái bát dựng trầu, cau và treo lá bùa.Người Ơ đu quan niệm rằng khi trong nhà có việc chẳng lành như có người  ốm đau, bệnh tật kéo dài chữa trị không khỏi, hỏa hoạn hay có người chết, vật nuôi chết hay thất lạc,...là do ma nhà hay hồn ở chỏm tóc phật ý mà làm hại. Người ta mời thày mo đến cúng ma nhà, cúng hồn chỏm tóc với nhiều lễ lạt trâu, lợn, gà, quần áo, gạo, bạc nén, rượu cần... để hòi xem ma nhà hay linh hồn phật ý về vấn đề gì, sau đó tiếp tục bày lễ xám hối và cầu xin ma nhà hay linh hồn tha thứ và đừng làm hại gia đình.

 

Người Ơ Ðu sinh sống chủ yếu bằng nương rẫy và một phần ruộng nước. Mỗi năm họ chỉ làm một vụ: phát, đốt, gieo hạt từ các tháng 4-5 âm lịch, thu hoạch vào các tháng 9-10. Công cụ làm rẫy gồm rìu (xoải), dao (pa đa), lưỡi hái (hep),... Ngoài lúa là giống cây trồng chính, còn trồng sắn, bầu, bí, ngô, ý dĩ, đỗ; nghề hái lượm và săn bắn vẫn có vị trí quan trọng trong đời sống. Chăn nuôi trâu bò, lợn gà, dê khá phát triển. Trâu, bò dùng làm sức kéo, kéo cày, lợn gà sử dụng trong các dịp cưới, nghi lễ tín ngưỡng, cúng ma... Ðan lát đồ gia dụng bằng giang, mây, một phần tiêu dùng, phần để trao đổi. Thời xa xưa người Ơ đu có nghề dệt vải, thêu thùa, may vá khá phát triển. Hiện nay, sau bao cuộc thiên di nhưng tư liệu sản xuất, cũng như đồ dùng trong sinh hoạt hàng ngày, trang phục cổ truyền của nhóm Ơ đu ở Tương Dươg không còn nữa. Người Ơ đu ở Tương Dương bây giờ ăn mặc theo kiểu người Thái, người Kinh. Còn nhóm Ơ đu ở bản Khạp, Muang Khoun (Lào) vẫn giữ được nghề dệt vải và tự may lấy trang phục.

 

Ông Khăm Đí (phải)-Bí thư, Trưởng bản Khạp, Muang Khoun (Lào) và thày mo Khăm Mằn trong trang phục Ơ đu do đồng bào tự may

 

Nếp nương vẫn là loại lương thực chính của người Ơđu, mỗi vụ, mỗi gia đình thường trồng vài ha lúa nương, ngoài ra họ còn trồng ngô, sắn. Người Ơđu thích ăn xôi đồ (nếp trộn với một ít sắn, hay ngô hoặc đậu), khi mất mùa, đói kém người Ơđu vào rừng kiếm củ nâu, củ mài thay cơm. Phương tiện vận chuyển duy nhất của người Ơ đu là chiếc gùi (ga đế), có dây đeo bên trán. Chiếc gùi được đan bằng giang rất chắc chắn và được trang trí hoa văn rất đẹp.

 

Người Ơ đu ở nhà sàn. Kiến trú nhà ở của người Ơ đu thường có 4 mái, lớp bằng nứa hoặc tranh, đầu nhà quay vào núi, cột chôn, một ngôi nhà thường có 4-8 cột, tương ứng với nhà 1 hay 3 gian. Khi dựng, bao giờ người Ơ đu cũng dựng cột chính (cột góc ma nhà ở) trước, sau đó mới đến các cột khác theo thứ tự từ trái sang phải từ trên xuống dưới.

 

Thời hưng thịnh, người Ơđu sống độc lập, không xen kẽ với bất kỳ dân tộc nào. Họ chỉ giao du với người Thái, Khơ mú, hay người Kinh khi có nhu cầu buôn bán, trao đổi hàng hóa. Sau bao biến động của lịch sử, ngày nay do số lượng dân số ít, sống xen kẽ với người Khơ Mú và Thái cho nên các mặt quan hệ xã hội - văn hóa của họ chịu nhiều ảnh hưởng hai dân tộc này. Người Ơđu lấy họ theo họ Thái, Lào (Lo, Lương, Vi...). Tổ chức dòng họ rất mờ nhạt. Trưởng họ là người có uy tín, được kính trọng và có vai trò lớn trong dòng họ. Gia đình người Ơ Ðu là gia đình nhỏ phụ quyền. Ðàn ông quyết định tất thẩy các công việc trong nhà. Phụ nữ không được hưởng thừa tự. Họ phổ biến tục ở rể. Lễ vật trong dịp cưới không thể thiếu là thịt sóc, thịt chuột sấy khô và cá ướp muối. Đám cưới người Ơ đu thường kéo dài 3 ngày, nhà gai, nhà trai và ngày thứ 3 là 2 vợ chồng mới cưới tổ chức tạ lễ tại nhà ông mối (). Có một điều đặc biệt là, con gái Ơ đu không được phép lấy con trai trong tộc Ơ đu vì họ cho rằng người cùng tộc Ơ đu đều là cùng dòng tộc (họ Lo).

 

1_toc_nguoi_O_Du

Thầy mo làm lễ cho vợ chống mới cưới

 

Người phụ nữ khi sinh đẻ phải nằm ơ cữ tại góc bếp. Nhau của đứa trẻ được bỏ vào trong ống bương đem chôn ngay dưới gầm sàn. Người phụ nữ phải chịu kiêng khem hết 30 ngày, kiêng chất tanh, hôi, phải kiêng thịt ba ba, cá không vảy, ăn thịt gà thì phải lột da đi, người phụ nữ trong thời gian ở cữ chủ yếu ăn đồ nướng, canh rau rừng lam bằng ống nứa. Tuổi đứa con được tính từ ngày có tiếng sấm trong năm. Khi đó đứa bé được coi là đầy năm và được bố mẹ mời  thày mo đến làm lễ gia nhập dòng họ và đặt tên.

 

Và vài suy nghĩ bảo tồn văn hóa của Phrom Ơ đu

 

Như trên đã nói, Ơ đu là một trong năm dân tộc có số lượng người ít nhất trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Số liệu thống kê mới đây nhất thì số dân Ơ đu còn có ở Tương Dương chỉ là 613 người, nhưng thực chất người Ơ đu thật còn ít hơn thế, bởi lẽ con số 613 người kia bao gồm cả dân số cư trú tại bản Văng Môn, xã Nga My nơi đồng bao Ơ đu đang sinh sống, thực tế có một số gia đình không chỉ hoàn toàn là người Ơ đu, mà con dâu, hay con rể có thể là tộc người Thái hay Khơ mú.

 

Người Ơ đu đã từng có một quá khứ có thể coi là rất huy hoàng và có một văn hóa rất đặc sắc. Nhưng bây giờ, Phrom Ơ đu  đang bị đồng hóa với tốc độ ngày càng lớn, trước sự xâm thực ngày càng mạnh mẽ của văn hóa đương đại. Không gian văn hóa của Phrom Ơ đu không còn, phong tục, tập quán, tín ngưỡng và ngôn ngữ của họ cũng  không còn, thay vào đó là một không gian văn hóa xa lạ; Không phải là văn hóa người Thái, người Khơ Mú, cũng không phải là văn hóa người Kinh. Việc bảo tồn và phát triển tộc người Ơ đu hiện nay đang chỉ mới dừng lại ở mặt nâng cao đời sống vật chất, còn về yêu tố văn hóa thì diễn ra quá chậm và chưa mấy hiệu quả. Có hai nguyên nhân chính:  Trước hết ở ý thức tự bảo tồn nòi giống của đồng bào Ơđu quá nhiều hạn chế. Đồng bào dân tộc Ơđu hiện nay sử dụng tiếng Thái, tiếng Khơ Mú làm ngôn ngữ chính trong giao tiếp xã hội và trong sinh hoạt gia đình và theo đó phong tục, tập quán, tín ngưỡng cũng chịu ảnh hưởng rất nặng nề bởi người Thái hay Khơ mú. Thứ hai là nguồn lực đầu tư chưa có và phương pháp tiến hành chưa đúng và thiếu đồng bộ.

 

Ông Lo Văn Nghê (trên 70 tuổi)- một trong số ít ỏi người biết tiếng Ơ đu

 

Theo tôi nghĩ, để bảo tồn và phát triển văn hóa Phrom Ơ đu ngoài việc bảo đảm nguồn lực tài chính thì rất cần có sự quyết tâm lớn và đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở, huy động sự tham gia của các nhà nghiên cứu khoa học, văn hóa, ngôn ngữ. Trước hết là khôi phục lại không gian văn hóa Ơ đu, bao gồm quy hoạch lại bản Văng Môn ngày nay theo kiểu cấu trúc không gian làng bản của người Ơ đu cổ xưa, kiến trúc nhà ở truyền thống; tập quán sinh hoạt, tín ngưỡng; ngôn ngữ và phục dựng một số lễ hội quan trọng, như: Lễ chăm phtrong (mừng sấm đầu năm), lễ ăn cơm mới-rước hồn lúa và mừng nhà mới.

 

Riêng về việc bảo tồn ngôn ngữ Ơđu, Ủy ban nhân dân tỉnh cần giao cho huyện Tương Dương thực hiện đề tài khoa học để nghiên cứu, biên soạn và in thành giáo trình, tài liệu tham khảo để dạy cho đồng bào. Nên chăng nên thường xuyên tổ chức cho đồng bào Ơ đu ở bản Văng Môn, huyện Tương Dương (Việt Nam) tiếp cận, giao lưu văn hóa với đồng bảo Ơ đu ở bản Khạp, huyện Mương Khun (Lào), thậm chí có thể cử vài người dân ở bản Văng Môn và cán bộ nghiên cứu của huyện Tương Dương có trình độ và năng lực giao tiếp sang học tập, nghiên cứu ở bản Khạp, Mường Khun (Lào) một thời gian để thông thạo tiếng nói, tập quán sinh hoạt, học nghề thổ cẩm để trở về truyền thụ ngôn ngữ và phục hồi lại trang phục, tập quán của đồng bào Ơ đu.

 

Để làm được những việc trên cần có Ban quản lý bảo tồn văn hoá truyền thống tộc người Ơ đu để điều hành chung. Ban quản lý này  gắn liền với chính quyền huyện, xã và Ban cán sự bản Văng Môn.

 

Về lâu dài cần chăm lo đến sự phát triển của chủ thể sáng tạo và hưởng thụ văn hóa Ơ đu, cụ thể là cần tiếp tục thực hiện cơ chế, chinh sách đặc thù để phát triển kinh tế- xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần; ưu tiên đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ người dân tộc Ơđu đã tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, để hy vọng thông qua lớp trí thức Phrom Ơđu này có thể cứu được một tộc người đang có nguy cơ biến mất.        

 

NQ theo Vi Hợi, Văn Hóa Nghệ An           

____________________

Ghi chú:

(1) (5) xã Kim Đa và xã Kim Tiến nay không còn nữa, toàn bộ cư dân của 2 xã này đã di dời về Thanh Chương

(2) Xiêng Tắm: Nay thuộc xã Mỹ Lý, huyện Kỳ Sơn, Nghệ An

(3) Xiêng Lăm: Thuộc xã Hữu Khuông, Tương Dương, Nghệ An- nay bản này không còn nữa, toàn bộ cư dân sinh sống ở đây đa di dời về Thanh Chương

(4) Xiêng Men: thuộc các xã Yên Hòa, Yên Thắng huyện Tương Dương, Nghệ An


 


footer_banner_5