Thứ năm, 06 20th

Last updateThứ 4, 19 06 2019 4pm

Du lịch

Ký ức một chuyến về quê cũ: Viện Đại Học Đầu Tiên Của Việt Nam

"...Tiếc rằng thế hệ sau này- 1940- đã không biết vận dụng sức mạnh tinh hoa văn hóa của dân tộc cho mục đích nuôi dưỡng dân sinh, phát huy, cổ súy đề cao dân trí, nâng cao dân khí để chấn hưng đất nước..."

 

 

***

 

Ký ức một chuyến về quê cũ: Viện Đại Học Đầu Tiên Của Việt Nam VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM - Hà Nội

 

Chu Ẩn Phạm

 

Sau 16 năm rời quê cha đất tổ, bỏ lại một quê hương đọa đày, để thoát ách nạn cs, chọn Hoa kỳ là quê hương mới, lấy Carolina làm quê nhà mới như các bạn trẻ đang thực hiện. Mười sáu năm có đủ đong đầy nỗi nhớ hay bôi xóa kỷ niệm? Không, thời gian nhân lớn kỷ niệm, tô đẹp, làm rõ nét hơn kỷ niệm thì phải? Có lẽ kỷ niệm riêng tư thôi thúc, ngôi trường ngồi học, những ngôi trường đứng trên bục giảng, bảng đen phấn trắng, con đường ngập lá me bay, những tà áo trắng tinh khôi dưới hàng phượng đỏ. Tháng Ba năm 2007, chúng tôi làm chuyến du lịch về thăm quê cũ Saigon, Việt nam.

 

Nhiều người đã từng viết lên cảm xúc khi máy bay bắt đầu vào không phận Việt nam.

 

Riêng tôi, dĩ nhiên cũng có sự bồi hồi, nhưng nó bị lấn lướt bởi sự lo vô cớ như chuyện làm khó dễ...mặc dầu mình chỉ là người bình thường. Có lẽ sự lo vô cớ đó là tâm trạng kinh sợ còn hằn lại từ những năm tù cải tạo...Tự nhiên tôi vọt ra câu hát:"Saigon ơi ta đã về đây, ta đã về đây..." và chỉ có thế, hát đi hát lại. Câu hát đó trong bài "Tiến về Saigon" của mặt trận giải phóng miền Nam (không nhớ tên tác giả) mà tôi bị bắt buộc hát trong những ngày tháng tù lao cải. Tôi mỉm cười với ý nghĩ tôi "tiến về Saigon" không bằng súng đạn hận thù mà bằng tinh thần khai phóng dân chủ, tự do, thương yêu hòa bình nhân bản trong khả năng nhỏ nhoi của mình, của từng người quốc gia tỵ nạn cs chỉ biết mang ánh sáng nhân bản vào nơi tăm tối, dối trá, gian ác...

 

Tôi háo hức tiến về phía trước bàn làm thủ tục nhập cảnh. Mọi sự diễn ra êm xuôi nhẹ nhàng. Chúng tôi nhận đủ hàng và nhờ một anh phục vụ chất lên xe đẩy, anh ta vui vẻ giúp chúng tôi đẩy xe ra và tôi tặng anh ta tiền tip, anh cúi đầu lễ phép cám ơn. Ngoài hàng rào ngăn cách khu vực khách nước ngoài, tôi nhận ra hàng chục người thân với những bó hoa tươi mừng rỡ vẫy tay chào đón chúng tôi. Mọi lo âu biến mất nhường chỗ cho sự vui mừng khôn xiết khi gặp lại người thân sau hàng chục năm xa cách, tôi xúc động đến nghẹn ngào. Chúng tôi may mắn còn nguyên vẹn thân nhân với tình cảm gia tộc yêu thương chân thực đậm đà. Gia đình chú em bà con đưa chúng tôi về khách sạn khá khang trang và tiện nghi gọi là "nhà khách trung ương 2" còn có tên "Nhà khách Tao Đàn". Khi mọi người giải tán ra về cho chúng tôi nghỉ ngơi sau chuyến bay dài.Tận dụng thời gian này, tôi xuống đường thuê bao chiếc xe ôm nhờ chở tôi đi một vòng những ngôi trường tôi ngồi học ngày xưa. Những ngôi trường tôi từng đứng trên bục giảng. Tất cả vẫn: tường lở rêu phong, thềm cũ mòn, cây xưa cỗi dưới vệt nắng chiều thấp thoáng vài người lao công lầm lũi. Đối diện là những khu ăn chơi mới ồn ào nhốn nháo từ trong phòng ra đến vệ đường bụi bậm mù mịt cùng mùi thực phẩm xào nướng nồng nặc! Tôi tạm kết luận: giáo dục đi xuống, hưởng thụ vội vã lên ngôi!!! Chỗ nào cũng là những công trình sửa chữa, xây cất, sơn phết mặt tiền. Con người thì xe xua ăn mặc, son phấn kệch cỡm. Tất cả như cố tình trình diễn "phồn vinh giả tạo". Hầu hết những khoảng trống sân trường hướng ra mặt đường lộ đều bị chiếm hữu xây cất hàng quán kinh doanh.Trong khuôn viên đại học Luật, một quán trong hàng rào, có cắm tấm bìa nhỏ với hàng chữ viết tay "Chè lóng, thuốc nào". Có lẽ là trà nóng, thuốc lào, vì trên chiếc bàn thấp cáu bẩn có để bình trà và chiếc điếu cầy. Thật bôi bác làm sao!

 

Qua một ngày đêm tiếp đón bạn bè riêng tư. Tiếp theo chúng tôi góp với gia đình ông chú Út tổ chức bữa tiệc khoản đãi chung hai họ nội ngoại, số người tập trung lên đến gần hai trăm người, tất cả do một nhà hàng thầu. Họ làm gọn gàng, chu đáo. Bữa tiệc diễn ra vui vẻ, có ca tự diễn của bà con. Sau ngày này chúng tôi cùng gia đình chú Út đi một chuyến du lịch xuyên Việt do hãng du lịch Việt Tour tổ chức. Đoàn chúng tôi gồm có tám người đi trên một xe Van có tài xế tên Phú, có cô hướng dẫn viên (tour guide) tên Ngọc Ánh trùng tên với bà xã tôi nên cả đoàn kêu cô là Ánh Nhỏ.Thế là cả đoàn tổng cộng 10 người. Chuyến xuyên Việt này kéo dài 16 ngày. Khởi hành từ Saigon đi qua mỗi tỉnh hay thị xã đều dừng lại thăm quan thưởng thức đặc sản địa phương, ngủ đêm ở khách sạn top và điểm cuối cùng là Sapa- Lạng Sơn. Vòng đi, xe hơi từ Saigon qua các tỉnh tới Huế, Vinh, Ninh Bình, Nam Định có ghé quê Nghĩa Hưng, Hà Nội. Tiếp theo đi xe hỏa từ Hà Nội tới Chapa, ở Chapa lại đi xe vòng vòng thị xã và các vùng quê miền núi người Hmong, thăm chợ tình của người địa phương.. Chúng tôi tới thị xã Lạng Sơn, qua biên giới Việt- Tầu, khoảng một cây số trên đất Tầu khựa. Rồi trở về Hà Nội bằng xe lửa. Từ Hà Nội về lại Saigon bằng máy bay là chấm hết chuyến du lịch xuyên Việt.

Hn1 

Ghé Hà Nội, sau khi ổn định ở khách sạn Holiday In trên đường Hai Bà Trưng. Tận dụng thời gian này, tôi cũng lại xuống đường thuê bao xe taxi đi một vòng thăm lại ngôi trường Trần Quý Cáp xưa. Người tài xế chỉ cho tôi biết ngôi trường xưa bên trong hàng cây bàng và cây soan có hoa đỏ ối là dãy nhà ngói trệt cũ kỹ rêu phong, thế thôi, ký ức tôi nhạt nhòa. Tôi cũng yêu cầu tài xế đưa tôi đi qua đường Quan Thánh, con đường đặc biệt của Hà Nội, giữa đường có thêm đường xe điện dẫn tới hồ Gươm, có khu nhà gia đình cha mẹ tôi từng ở, mà hai bên đường chỉ trồng những cây sấu có trái rất chua để nấu canh, và sen lẫn là những cây bàng có rất nhiều sâu róm to kềnh như ngón tay người lớn mà hồi đó chúng tôi rất sợ- ôi mùa Thu cũng là mùa sâu rụng-, nhưng cây bàng lúc ấy cũng cho chúng tôi trái bàng chín vàng ối ăn thơm, ngọt lắm. Người tài xế chỉ cho tôi ngôi nhà theo yêu cầu của tôi. Đúng dãy nhà hai tầng khi xưa Bố tôi thuê ở một phòng trên lầu khoảng 6 tháng trước khi gia đình xuống Hải Phòng di cư vào Nam (1954). Hơn 50 năm, ngôi nhà vẫn thế, trông sáng với mầu vôi mới quét, nhưng trước mỗi phòng đều có phơi nào chiếu, nào áo quần, chăn mền, trông thật bệ rạc! Ôi Hà Nội xưa của tôi với kỷ niệm cũ quá phai mờ, nhếc nhác, không gợi trong tôi cảm giác phấn khích nào! Trở về phòng khách sạn, tôi và cậu lái xe tên Phú của công ty Việt Tour có cùng một thú vui là uống nước trà tươi nóng, ăn kẹo lạc của bà cụ già và cô cháu gái xinh ngay cạnh cửa khách sạn sang này ở Hà Nội. Sáng hôm sau Phú và tour guide Ngọc Ánh đưa đoàn chúng tôi đi thăm "Hà Nội 36 phố phường" mà hồi còn nhỏ Bố tôi dẫn đi, với tôi lúc ấy hình như vui, lớn lắm. Hơn 50 năm sau giờ này tôi mới rõ hơn, một "Hà Nội Phố" nhỏ bé chặt chội chen chúc, thì ra mỗi phố là chỉ có một "phường" bán một thứ mà thôi. Một con đường nhỏ chuyên bán một món hàng theo tên của món hàng đó mà mang tên phố. Như con phố chặt hẹp chỉ bán những chiếc bồ đan bằng tre được mang tên là phố hàng bồ, chỉ rặt một phường bán bồ thôi. Phố hàng thau thì chỉ bán những sản phẩm bằng thau, đồ đồng-CU-...36 phố bán 36 thứ khác nhau ở một khu vuông vức như bàn cờ. "Hà Nội 36 phố phường" là như thế. Đây là diện mạo mang bản sắc lịch sử văn hóa chính của Hà Nội trong lòng dân tộc Việt.

 

           Hn2

                           Hồ Gươm, tháp rùa                                                                       Chùa Một Cột

 

Thăm hồ Gươm, tháp rùa nơi mà "Cụ rùa" xưa đã từng nổi lên xin vua Lê Thái Tổ- Lê Lợi- trả lại gươm thần cho Long Vương. Thăm hồ Tây rộng mênh mông. Thăm Chùa Một Cột, chúng tôi không thăm lăng liếc gì cả mà dùng thì giờ đó thăm quan di tích văn hóa: Văn Miếu Quốc Tử Giám lâu hơn, kỹ càng hơn, là mục đích chính của chúng tôi.

 

 Hn3           

VĂN MIẾU- QUỐC TỬ GIÁM

 

Đây là một quần thể di tích văn hóa đa dạng, giá trị và phong phú hàng đầu của thủ đô Hà Nội bây giờ, nằm ở phía Nam, ngày xưa còn có tên Thăng Long- Vua đời Lý thấy có rồng bay lên từ nơi này mà đặt tên đó- Khu văn hóa này là tổ hợp gồm hai di tích chính:

 

1- Văn Miếu: Thờ các bậc hiền triết của Nho giáo. Theo tài liệu thư tịch Việt Nam Văn Miếu được xây dựng vào năm Canh Tuất(1070) dưới triều vua Lý Thánh Tông. Đây là nơi văn hóa chính của quốc gia, (mà lại thờ ông Tầu!) nơi thờ Khổng Tử, Chu Tử- Chu Công- Từ Phối và 72 học trò giỏi của Khổng Tử. Ở các tỉnh, địa phương nơi có nhiều nho gia cũng có xây Văn Chỉ- tức Văn Miếu nhưng nhỏ cấp hơn- cũng để thờ ông Khổng. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Văn Miếu còn mang chức năng của một trường học Hoàng gia mà học trò đầu tiên là Thái tử Lý Càn Đức, con trai vua Lý Thánh Tông với Nguyên Phi Ỷ Lan, lúc đó mới 6 tuổi, đến năm 1072 lên ngôi là vua Lý Nhân Tông. Văn Miếu, Văn Chỉ còn thờ các Nho gia Việt Nam như Chu Văn An, Lê Quý Đôn...

 

2- Quốc Tử Giám: Sáu năm sau, Năm Bính Thìn (1076) Vua Lý Nhân Tông cho xây dựng trường Quốc Tử Giám ở kế sau Văn Miếu, có thể coi đây là hình thức trường Đại Học đầu tiên của Việt Nam. Ban đầu đây là nơi học của các hoàng tử, công chúa trong Hoàng gia. Dần dần về sau mở rộng thu nhận cả những sĩ tử giỏi trong cả nước. Quốc Tử Gám chính là trường Quốc Học Cao cấp đầu tiên, hay còn là trường Đại Học Hoàng Gia đầu tiên của Việt Nam đã đào tạo ra hàng ngàn nhân tài cho đất nước.

 

Như vậy, Văn Miếu-Quốc Tử Giám là tên ghép thể hiện rõ hai chức năng của một khu di tích, nơi thờ tự các bậc thánh hiền Nho giáo và là trường Quốc Học đào tạo nho sĩ cao cấp.Xây dựng Văn Miếu liền với Quốc Tử Giám là một đặc điểm riêng xuất sắc của tổ chức Nho học Việt Nam. Theo thuyết trình viên của khu di tích, ngày nay Văn Miếu Quốc Tử Giám là nơi thăm quan của du khách trong và ngoài nước, còn là nơi tổ chức hội thơ hàng năm vào ngày rằm tháng giêng. Đặc biệt, đây còn là nơi các sĩ tử ngày nay đến"cầu may" -sờ đầu rùa đá-trước mỗi kỳ thi. Cũng theo hướng dẫn viên tên Trần Thái, toàn bộ kiến trúc Văn Miếu hiện nay đều là kiến trúc thời đầu nhà Nguyễn. Khuôn viên được bao bọc bởi bốn bức tường xây bằng gạch vồ ( gạch vồ làm bằng cát trộn vôi nước, đổ vào khuôn rồi lấy vồ nện cho cứng, sản phẩm từ nhà hậu Lê)

 

*Văn Miếu Môn: ( Cửa vào Văn Miếu)

 

Lối vào bắt đầu với cổng chính, Văn Miếu Môn là cổng tam quan phía ngoài. Kiểu dáng kiến trúc cổ của Văn Miếu môn có nét độc đáo riêng, đẹp mà trang nghiêm. Phía trước là tứ trụ và hai tấm bia"hạ- mã" hai bên khoảng trên mười mét là mốc ranh giới chiều ngang trước mặt cổng. Theo thuyết trình viên, xưa kia, dù là công hầu, khanh tướng, có võng lọng, xe, ngựa gì đi nữa hễ đi ngang qua Văn Miếu đều phải xuống đi bộ ít nhất từ tấm bia hạ mã bên này sang tới tấm bia hạ mã bên kia mới lại được lên xe, lên ngựa, lên võng. Như thế đủ biết Văn Miếu có vị trí tôn nghiêm tới chừng nào! Tứ trụ được xây bằng gạch, hai trụ giữa xây cao hơn, trên có tượng hai con nghê chầu nhau. Người xưa tin rằng nghê là vật linh thiêng có khả năng phân biệt kẻ ác, người thiện. Hai trụ ngoài đắp nổi hình 4 con chim phượng xòe cánh chắp đuôi vào nhau. Tứ trụ có câu đối chữ Nho: Đông, Tây, nam, Bắc do tư đạo- Công, Khanh, Phu sĩ xuất thử đồ.

 

Nghĩa của câu đối theo Bách Khoa Toàn thư là: Đông, tây, nam, bắc cùng đạo này,(đạo Nho)- Công hầu, khanh tướng, sĩ phu xuất thân từ chốn này.

 

Phía trước cổng tam quan là đôi rồng đá mang phong cách đời Lê. Bên trong là đôi rồng đá thời Nguyễn. Theo hướng dẫn viên thì mỗi triều đại có biểu tượng hình rồng khác nhau. Hai mặt cổng tam quan có hai câu đối dài quá lại không có đề rõ niên đại. Tôi không hiểu gì nên túm ngay lấy hướng dẫn viên: " Ông Thái Giám ơi, xin vui lòng đọc và giải thích dùm hai câu đối này ". Ông Thái nhìn sững tôi, thấy tôi cầm giấy bút chăm chú ghi chép thì hạ giọng :" Sao bác lại gọi em là Thái Giám ? ". Tôi mỉm cười " Thì ông tên Thái làm giám thị ở đây, không kêu là Thái Giám thì kêu bằng gì?". Anh biết tôi đùa, cũng cười đùa lại:" Đừng gọi em là Thái giám, em sợ bị thiến lắm ạ!". Cả đám cười xòa. Anh Thái mở cuốn sổ tay ra đọc rõ tư liệu ghi sẵn: Câu đối thứ nhất khắc trên đó là:

 

- Đại quốc bất dịch giáo, bất biến tục, thả tôn sùng chi, diệc tín tư văn nguyên hữu tự.

 

- Ngô nho yếu thông kinh, yếu thức thời, vô câu cố dã, thượng tư thánh huấn vĩnh tương đôn. Nghĩa là:

 

- Nước lớn trong giáo dục, giữ thuần phong, đạo được tôn sùng, tin tưởng tư văn, nguyên có gốc.

 

- Nhà nho phải thông kinh, phải thức thời, chớ nên cố chấp, lời thánh dậy, phải ghi lòng.

 

Câu đối thứ hai

 

- Sĩ phu báo đáp vị hà tai: Triều đình tạo tựu chi ân, quốc gia sùng thượng chi ý.

 

- Thế đạo duy trì thử nhi! Lễ nhạc y quan sở tụy, thanh danh văn vật sở đô.

 

Nghĩa là:

 

- Sĩ phu có nhiều báo đáp: Ơn triều đình đào tạo, ý nhà nước tôn sùng.

 

- Thế đạo nhờ đó duy trì! chốn lễ nhạc y phục chỉnh tề, nơi thanh danh văn vật.

 

Chúng tôi hướng vào phía trong, lối đi giữa dẫn đến cổng Đại Trung Môn.

 

*Đại Trung Môn.

 

Từ cửa chính Văn Miếu Môn, vào không gian thứ nhất có tên là Khu Nhập đạo. Theo đường thẳng tới cổng thứ hai là Đại Trung Môn. Hai bên có hai cổng nhỏ là cổng "Thành Đức" bên trái và "Thành Đạt" bên phải. Hai bên là không gian cây xanh và thảm cỏ, được bao bọc bởi bức tường rêu phong.Trong khu này có hai hồ hình chữ nhật nằm dài sát theo chiều dọc bên ngoài. Khung cảnh tạo cảm giác tĩnh mịch, thanh nhã, hài hòa. Vẫn theo lối đi ấy đến thẳng tới Khuê Văn Các, cũng là một biểu tượng đặc trưng của Hà Nội.

 

* Khuê Văn Các.

 

Khuê là sao Khuê, ngôi sao chủ về văn học. Văn là vẻ đẹp. Các là lầu gác. Tức ngôi lầu đẹp như sao Khuê, được xây dựng vào năm 1805 thời nhà Nguyễn. Gác dựng trên một nền vuông vức cao cân xứng có lát gạch bát tràng. Kiểu dáng kiến trúc Khuê Văn Các rất hài hòa, độc đáo. Các trụ cột trạm trổ hoa văn tinh vi và sắc sảo. Cửa và các thanh gỗ chống tượng trưng cho sao Khuê và tia sáng của sao. Mỗi mặt tường gỗ sơn son đều trạm câu đối chữ Nho thiếp vàng rất ý nghĩa.

 

Hn4a

 

1- Khuê tinh thiên lãng, nhân văn xiển- Bích thủy xuân thâm đạo mạch trường.

( Nghĩa: Sao Khuê trời sáng, văn minh rộng-Sông Bích thủy sâu, mạch đạo dài)

 

2- Hy triều phấn sức, long văn trị- Kiệt các trân tàng, tập đại quan

( Nghĩa: Triều ta tô điểm , rồng đẹp trị- Gác đẹp vân hay, đông khách xem)

 

3- Thành lâm Bắc Đẩu hồi nguyên khí-Nguyệt tế thu đàm chiếu cố tâm.

( Nghĩa: Tường được bắc Đẩu soi trả lại khí tốt- Trăng thu sáng hồ ao soi lòng xưa)

 

4- Thánh hiền nhất thống đồ thư phủ-Văn hiến thiên thu lễ nghĩa bang.

(Nghĩa: Phủ đồ thư một mối thánh hiền- Nước lễ nghĩa nghìn năm văn hiến)

 

Gác Khuê Văn vốn là nơi xưa kia dùng họp bình những bài văn hay của các sĩ tử đã thi đậu khoa thi Hội. Lầu nhỏ kiến trúc giản dị nhưng tao nhã, lại được chọn dựng ở vị trí thoáng mát giữa những cây cổ thụ xanh tươi, cạnh hồ Thiên Quang đầy nước trong, in bóng lầu son gác tía. Theo quan niệm người xưa, hồ Thiên Quang hình vuông tượng trưng cho mặt đất, cửa sổ hình tròn của gác Khuê Văn tượng trưng cho bầu trời, có ý nói: Nơi đây tập trung mọi tinh hoa của trời đất. Tiền nhân có ý đề cao trung tâm văn hóa giáo dục Nho học Việt Nam. Hai bên Khuê Văn Các cũng có hai cổng nhỏ có đề chữ "Súc văn" và "Bi Văn". Cửa Súc văn có ý nghĩa là văn chương hàm súc, phong phú có khả năng nuôi dưỡng vẻ đẹp của tâm hồn. Cửa bi văn ý nói văn chương chau chuốt sáng sủa có sức truyền cảm thuyết phục con người. Hai cửa này cùng với gác Khuê Văn mở đầu cho khu vực thứ ba, khu vực hồ Thiên Quang và hai vườn bia Tiến Sĩ.

 

*Hồ Thiên Quang, Bia Tiến Sĩ

 

 Hn5a  Hn6

 

Thiên Quang Tinh ( giếng trời trong sáng) còn được gọi là Văn Trì (Ao Văn). Hồ hình vuông, cả khu có tường bao quanh. Quan niệm người xưa: Hổ hình vuông tượng trưng cho đất,cửa tròn gác Khuê Văn tượng trưng cho trời. Tinh hoa cả trời đất đều được tập trung ở trung tâm văn hóa giáo dục uy nghiêm này.

 

Hai bên hồ là hai khu nhà bia, nơi dựng 82 tấm bia ghi tên những người đỗ tiến sĩ. Bia đà dựng trên lưng rùa đá làm trụ. Tấm bia dựng đầu tiên vào năm 1484 khắc tên các vị đỗ tiến sĩ năm Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3. Va bia sau cùng khắc tên các vị tiến sĩ đỗ năm Kỷ Hợi, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 40 (năm 1779). Đây có lẽ là di tích có giá trị bậc nhất của cả khu di tích lịch sử này. Năm 1976 viện khảo cổ học và phòng bảo tàng đã khai quật được một con rùa đá mang bia chìm sâu dưới lòng hồ cạnh Khuê Văn Các nâng số bia Tiến sĩ lên con số 83. Đây là những tư liệu văn tự bản gốc duy nhất được lưu giữ tại chỗ, liên tục kể từ khi khởi dựng. Các nhà nghiên cứu khảo cổ đều cho rằng văn bia tiến sĩ xứng đáng là pho"sử đá" có giá trị cao và hiếm có về văn hóa, lịch sử, nghệ thuật chế tác của dân tộc Việt và nhân loại. Vào trong nữa, là cửa Đại Thành.

 

*Đại Thành Môn,Khu Điện thờ.

 

Hn7

 

Bước qua cửa Đại Thành (cửa của sự thành đạt lớn) là vào khu thứ tư, khu vực chính của di tích Văn Miếu -Quốc Tử giám. Một sân rộng, hai bên là hai dãy tả vu, hữu vu là nơi thờ các danh nho. Chánh diện là nhà Đại Bái và Hậu cung, không khí thâm nghiêm, u tịch. Tại đây trưng bày một số hiện vật quý. Bên trái có "Bích ung Đại Chung"( chuông lớn của nhà Giám) do Nguyễn Nghiễm cho đúc vào năm 1768. Bên phải có một khánh đá, mặt trong có hai chữ Thọ Xương, mặt ngoài khắc bài nói về công dụng nhạc khí này bằng chũ nôm. Tiếp theo là Hậu cung, nơi đặt tượng Khổng tử và 4 môn đệ là:Nhan tử, Tăng tử, Mạnh tử và Tử Tư. Tòa Đại Bái này là nơi hành lễ của các kỳ tế tự Xuân, Thu. Nơi đây treo nhiều hoành phi, câu đối. Bức hoành phi gian giữa khắc bốn chữ "Khang Hy ngự thư" và Đồng Khánh Mậu Tý (1888). Đại Bái Đường đậm phong cách kiến trúc thới Hậu Lê, đơn giản, không cầu kỳ.

 

*Đền Khải Thánh- Quốc Tử Giám.

 

Sau Đại Bái và Hậu cung là đền Khải Thánh vốn xưa là giảng đường chính trường Quốc Tử Gám, nơi rèn đúc nhân tài cho nhiều triều đại. Trường này thời Lý gọi là Quốc Tử Giám, đời Trần gọi là Quốc Tử Viện sau lại đổi là Quốc Học Viện. Vẫn theo tài liệu từ Bách Khoa Toàn Thư, đến đời Hậu Lê lại gọi là Quốc Tử Giám. Khi nhà Nguyễn dời trường này vào kinh đô Huế thì nơi đây dùng làm khu Khải Thánh, thờ các bậc tiên hiền Nho gia. Theo hướng dẫn viên (HDV) thì khu này trong thập niên 40, chiến tranh Pháp Việt, đã bị phá hủy gần hết. Kiến trúc ngày nay là tân tạo bởi ngân sách tài trợ của cơ quan Văn Hóa Liên Hiệp Quốc. Kết thúc vòng hướng dẫn thăm khu di tích văn hóa Văn Miếu Quốc Tử Giám, HDV "Thái giám" kể vài giai thoại như: giới học sinh hoặc các bậc cha mẹ dẫn con em vào đây, tới các bia rùa, vưốt đầu rùa rồi vuốt lên đầu các em để được sáng trí, học giỏi. Nghe nói vậy, tôi cũng sờ đầu rùa rồi vuốt lên đầu mình. Nhưng cái đầu bình vôi già cỗi của tôi vẫn đặc mít và còn hói thêm! Còn "Cụ Rùa" thỉnh thoảng lại nổi lên như báo trước diềm xấu tốt gì đấy. HDV còn cho biết các cây cổ thụ ở đây có cây cả ngàn năm tuổi. Trong thời chiến, các kiến trúc bị hư hại nhưng những cây cổ thụ này vẫn đứng sừng sững, cây lâu đời cũng có linh tánh, thật thần diệu. Thật ra, nhà cầm quyền cs chỉ cần chính sách ngu dân nên vẫn nuôi dưỡng những mê tín phản khoa học. Nước hồ gươm không chịu nạo vét, rác rến nhiều, ô nhiễm nặng rùa phải nổi lên thở không khí trong lành chứ.

 

Trong chuyến về thăm VN lần này, đoàn gia đình chúng tôi may mắn được thăm hai khu di tích văn hóa quan trọng nhất của dân tộc Việt mình là quần thể kinh đô Huế với đền đài lăng tẩm hoàng gia, và quần thể các khu di tích Hà Nội xưa với "Hà Nội 36 phố phường". Dù vốn nghi ngờ triết lý quân vương của Khổng Khâu, nhưng với truyền thống khoa giáo, chúng tôi quan tâm đặc biệt khu di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám,Viện Đại Học Hoàng gia đầu tiên của Việt Nam . Từ những "Nền cũ lâu đài bóng tịch dương" (cả nghĩa đen và bóng) ấy gợi quá khứ văn hóa khoa bảng huy hoàng vàng son của những triều đại thanh bình là điều tâm đắc của nhà giáo hậu sinh, cũng là nguồn cảm hứng vô biên cho người viết hoàn thành bài viết này. Người Việt thật đáng tự hào về tiền nhân của mình! Tiếc rằng thế hệ sau này- 1940- đã không biết vận dụng sức mạnh tinh hoa văn hóa của dân tộc cho mục đích nuôi dưỡng dân sinh, phát huy, cổ súy đề cao dân trí, nâng cao dân khí để chấn hưng đất nước mà còn mang thứ văn hóa cs chủ nghĩa nô dịch, ngoại lai về làm bại hoại quốc gia dân tộc, cố tình xóa bỏ văn hóa truyền thống, kiềm hãm dân trí, làm suy đồi dân khí đưa dân tộc vào vòng nô lệ ngoại bang Tầu khựa bắc phương.

.

Hy vọng quá khứ kia vẫn sẽ còn là bình minh của tương lai.

.

Chu Ần Phạm

footer_banner_5