Lịch sử - Văn hóa
Cha Vô Danh: Những ngày vui sống ở Hà Nội 1948-1951 (P. 11)
Viết bởi nq   
Thứ bảy, 05 Tháng 5 2018 16:58

 

"Ba năm trôi qua trong cảnh sống yên bình ở Hà Nội, ba năm phẳng lặng để nghỉ ngơi bù lại ba năm sóng gió lao đao nay đây mai đó. Ba năm thật ngắn ngủi, nhưng là một quãng đời đáng ghi nhớ vì là thời gian gây dựng lại một gia đình trên những đổ vỡ của quá khứ."

 

 

De_pre_inconnu-PhamNgocLan

.

."De Père Inconnu” (“Cha Vô Danh”) của tác giả Phạm Ngọc Lân được nhà xuất bản lớn L’Harmattan ở Paris xuất bản và phát hành đầu tháng 2-2015


 

1- 2- 3- 4- 5- 6- 7- 8- 9- 10- 11- 12- 13- 14- 15- 16- 17- 18- 19- 20-

 
Đôi nét về Người Mường - người Việt cổ ở Thanh Hóa
Viết bởi nq   
Chủ nhật, 29 Tháng 4 2018 00:00

 

Người Mường - là tộc danh đã được các cứ liệu khoa học, các nhà nghiên cứu và đồng bào tự nhận về dân tộc mình từ xa xưa. Cũng như người Mường ở tỉnh Hoà Bình, Phú Thọ, người Mường tỉnh Thanh Hoá có nguồn gốc từ người Việt cổ. Thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường; rất gần với tiếng Việt (có thể nói theo nghĩa tương đối 70 - 75%). Người Mường tỉnh Thanh Hoá có hai nhánh. Nhánh Mường cổ - Mường gốc - Mường ống từ huyện Bá Thước thường gọi là Mường trong; và một bộ phận di cư đến từ tỉnh Hoà Bình vào thường gọi là Mường ngoài.

 

 

Lễ chuẩn bị cho con gái đi làm dâu nhà người

 
Thế hệ trí thức thời đại Minh Mệnh
Viết bởi nq   
Chủ nhật, 22 Tháng 4 2018 00:00

 

"Đây là thế hệ trí thức được đào tạo bài bản đầu tiên của thế kỷ XIX, cũng là thế hệ trí thức thời hậu chiến (sau 1802), chính vì thế, họ có vai trò đặc biệt trong việc định hình nên nền chính trị, thiết chế, cấu trúc xã hội và văn hóa ở Việt Nam đầu thế kỷ."

 

 

031818_4a

.

Bảng 1: Thống kê Tiến sĩ và phó bảng theo vùng trong ba thập kỷ (1820, 1830, 1840).

Cơ cấu theo vùng miền của các tiến sĩ thời kỳ Minh Mệnh cho thấy phần lớn những người “khoa cử” trong giai đoạn 1820-1841 xuất thân từ miền Bắc và miền Trung. Số liệu:  Nola Cooke 1995.

 
Hương ước - xưa và nay
Viết bởi nq   
Thứ năm, 19 Tháng 4 2018 12:10

 

Hương ước - hay còn gọi là lệ làng, là một giá trị văn hóa, truyền thống, gắn liền với lịch sử dân tộc Việt Nam. Trải qua bao biến cố, Hương ước đến nay vẫn còn được lưu giữ và đóng vai trò trong nền văn hóa và phong tục, tập quán của người Việt. Một số tiến sỹ luật gia trong nước đánh giá vai trò của hương ước thời nay ra sao?

 

 

041918_1

.

Đình - Đền Hào Nam tổ chức Lễ hội truyền thống - RFA

 

 
Mùa "Tăng Amăng" của người Banar
Viết bởi td   
Thứ sáu, 13 Tháng 4 2018 00:00

 

Cho đến bây giờ người dân tộc Banar ở hầu hết mọi vùng thuộc tỉnh Gia Lai vẫn giữ tục ăn mùa tăng amăng, tiếng Banar có nghĩa là ‘’đóng cửa kho lúa’’.

 

mua_tang_amang_cua_nguoi_Banar

Phong tục uống rượu cần của người Banar trong mùa "Tăng Amăng" (Photo: BaoGiaLai)

 
Cha Vô Danh: Hồi cư – "Dinh tê" – 1948 (P. 10)
Viết bởi nq   
Chủ nhật, 25 Tháng 3 2018 10:18

 

"Cũng như trạm kiểm soát của Việt Minh trước đây khi tản cư, mục đích để xem có gián điệp của Pháp cài vào trong đám người tản cư hay không, các trạm kiểm soát của Pháp cũng không ngoài mục đích kiểm xem có cán bộ Việt Minh trà trộn vào đám người hồi cư hay không. Công việc này không dễ dàng tí nào, nhất là đa số người hồi cư không có giấy tờ tùy thân gì cả."

 

 

De_pre_inconnu-PhamNgocLan

.

."De Père Inconnu” (“Cha Vô Danh”) của tác giả Phạm Ngọc Lân được nhà xuất bản lớn L’Harmattan ở Paris xuất bản và phát hành đầu tháng 2-2015


 

1- 2- 3- 4- 5- 6- 7- 8- 9- 10- 11- 12- 13- 14- 15- 16- 17- 18- 19- 20-

 

 
Sự hình thành cộng đồng người Thượng trên cao nguyên miền Trung
Viết bởi nq   
Thứ tư, 28 Tháng 2 2018 00:00

 

BBT: Tìm hiểu lịch sử các cộng đồng sinh sống trên đất nước Việt Nam phải là một ưu tư của mọi nỗ lực nghiêm chỉnh nhằm đóng góp xây dựng Việt Nam tương lai. Chúng tôi xin giới thiệu công trình của tiến sĩ dân tộc học Nguyễn Văn Huy (Paris), qua bốn bài viết, tóm lược sự hình thành cộng đồng người Thượng trên cao nguyên miền Trung, những phong trào phản kháng của người Thượng trong thời Pháp thuộc và dưới các chế độ chính trị của Việt Nam. Bài 1: Sự hình thành cộng đồng người Thượng trên cao nguyên miền Trung.

 

cao_nguyen_mien_Trung

Ảnh minh họa người Thượng ở Cao nguyên trung phần - Coutersy photo

 
Nguyễn Hữu Cảnh - Danh tướng xác lập phương Nam, thực hiện hòa hợp dân tộc
Viết bởi nq   
Chủ nhật, 25 Tháng 2 2018 00:00

 

Nguyễn Hữu Cảnh 阮有鏡 (1650-1700) tên thật là Nguyễn Hữu Thành, húy Kính, tộc danh là Lễ, là một danh tướng thời chúa Nguyễn Phúc Chu. Ông được xem là người xác lập chủ quyền cho người Việt Nam tại vùng đất Sài Gòn-Gia Định vào năm 1698. Kể từ thời điểm đó, miền đất này chính thức trở thành một đơn vị hành chính thuộc lãnh thổ Việt Nam ngày nay.

 

                    
                   Danh tướng Nguyễn Hữu Cảnh (1650-1700), người mở cõi phương Nam

 
Cha Vô Danh: Tản cư - 1946 (P. 9)
Viết bởi nq   
Thứ bảy, 10 Tháng 2 2018 08:01

 

"Sau lần mợ con khai ở trạm kiểm soát rằng cậu là chồng để thoát nạn, cậu được thể thuyết phục mợ con lấy cậu. "Số phận đã an bài như thế rồi!" Đó là lý lẽ cậu đưa ra. Mợ con cũng siêu lòng, nhưng đặt cho cậu nhiều điều kiện."

 

 

De_pre_inconnu-PhamNgocLan

.

."De Père Inconnu” (“Cha Vô Danh”) của tác giả Phạm Ngọc Lân được nhà xuất bản lớn L’Harmattan ở Paris xuất bản và phát hành đầu tháng 2-2015


 

1- 2- 3- 4- 5- 6- 7- 8- 9- 10- 11- 12- 13- 14- 15- 16- 17- 18- 19- 20-

 

 

 ***

 

Tản cư - 1946

 

(Chuyện kể của người cha dượng)

 

Cậu bắt đầu đặt câu hỏi tại sao cùng là người Việt với nhau mà không đoàn kết được để cùng đấu tranh giành độc lập, mà ngược lại còn dùng đủ mọi thủ đoạn để hãm hại nhau chỉ vì cái nhãn hiệu quốc gia hay cộng sản? Dần dần cậu xa lánh không khí ngột ngạt ở Hà Nội và về Hà Đông gần quê mình hơn.

 

Một hôm cậu đi qua làng Vồi và ghé vào quán nước của một bà cụ ở ven chợ, có người con gái giúp bà bán hàng, và đứa cháu ngoại trạc hơn 2 tuổi quanh quẩn bên quán. Cô hàng tươi tắn mời khách, cháu bé xinh xẻo ngoan ngoãn, thấy rõ là lai Tây.

 

Sau lần đầu đó, lâu lâu cậu trở lại quán và lân la làm quen với mợ con. Con cũng đoán đó chính là quán của bà ngoại con. Càng ngày cậu càng có thêm cảm tình với mợ con, và một hôm bà ngoại con kể chuyện của mợ con trong Sài Gòn như thế nào mà có con lai Pháp. Cậu cũng tâm sự về hoàn cảnh gia đình của cậu, đã có vợ ở quê do mẹ cưới, nhưng cậu dứt khoát không sống với người vợ đó vì không có gì hợp nhau cả. Càng ngày cậu càng thêm thân thiết với gia đình con, có thể nói tình yêu đến lúc nào không biết. Nhưng thời đó đâu có thổ lộ như bây giờ, vả lại mợ con vẫn còn mang vết thương lòng chưa lành hẳn, nên không nghĩ gì đến chuyện làm lại cuộc đời.

 

Ngày 19 tháng 12 năm 1946, chiến tranh bùng nổ, có lệnh tiêu thổ kháng chiến, người dân trong vùng Pháp kiểm soát phải tản cư đến các vùng Việt Minh kiểm soát, mang theo đồ đạc tối thiểu, những gì còn lại phải giấu kín hoặc tiêu hủy để địch không dùng được. Đối với những gia đình khá giả, đây là một quyết định đau lòng, còn đối với người nghèo thì dễ dàng ra đi chẳng có gì hối tiếc.

 

Gia đình họ hàng xa gần của ông Phó cả thảy gần ba chục người lớn bé, kể cả trẻ con sẽ đi chung một đoàn, bà ngoại, mợ con và con cũng tháp tùng đi chung với đoàn người đó. Chỉ còn ông Phó và bà Phó già ở lại giữ nhà. Lúc đó cậu đã thương mợ con rồi, không muốn xa mợ nên xin phép bà cho đi cùng. Cảnh gia đình không có đàn ông trong lúc tản cư cũng có nhiều gian nan, nên bà ngoại con bằng lòng cho cậu đi theo.

 

Thế là thu gọn vài cái quần áo, nồi niêu bát đũa cho vào một cái thúng, cái thúng kia để con ngồi, phía trên thúng khum chiếc chiếu dưới cái quang để che mưa nắng cho con. Và cứ thế, đoàn người đi bộ, mỗi gia đình gánh theo hai cái thúng đựng gạo và ít đồ dùng hay có em bé ngồi. Cậu cũng gánh giúp bà và mợ, nhưng vì không phải người nhà quê gánh quen hằng ngày nên không thể gánh lâu được. Mệt đã đành, nhưng lại còn bị toét cả vai, đau không chịu được. Nên cứ phải thuê người gánh từ làng này sang làng kia, người gánh thuê quay về làng người ta, mình lại thuê người làng mới tới gánh đi tiếp. Phải nói lúc đó tinh thần người dân rất cao, phong trào tản cư ở miền Bắc đâu đâu cũng có.

 

Nhưng rồi mọi sự cũng không suôn sẻ như mình tưởng. Khi đến vùng Việt Minh, đoàn người phải qua một trạm kiểm soát. Họ cũng sợ có gián điệp trà trộn vào đám người tản cư nên phải làm trạm kiểm soát như thế. Tất cả đoàn người đều qua lọt hết, riêng đến mợ con thì gặp rắc rối. Họ quy cho mợ con là "Việt gian" vì họ thấy con lai Pháp. Thời đó bị quy là Việt gian là ghê lắm, có thể nguy hiểm đến tính mạng.

 

Mợ con khóc lóc van xin, nhưng họ nhất định bắt giữ lại để điều tra. Họ bắt mợ leo lên một cái chòi cao, phải leo lên bằng cái thang, xong rồi họ rút thang đi. Họ nói chờ đến trưa có cấp trên đến sẽ tra hỏi cho ra nhẽ! Họ xua tất cả đoàn phải đi trước, không được chờ mình. Thế là cả đoàn phải ra đi, riêng bà và cậu nhất định ở lại chờ, nhưng phải ra ngoài xa xa ngồi đợi dưới một gốc cây.

 

Chưa khi nào cậu thấy thời gian đi chậm như vậy… Đến gần trưa, thấy có một người đứng tuổi ăn mặc kiểu bộ đội từ xa đến bước vào trong trạm kiểm soát. Người này trông có vẻ chững chạc hơn bọn trẻ kiểm soát sáng nay, chắc là bọn du kích địa phương. Rồi thấy họ bắc thang lên cái chòi cho mợ xuống, dắt vào trong trạm.

 

Một lúc lâu sau một tên du kích bước ra, đến chỗ cậu ngồi, nói cậu vào trong nhà có việc. Khi vào thì không thấy mợ con đâu cả, chỉ thấy người mặc quần áo bộ đội ngồi sau cái bàn, hỏi cậu "Anh có phải là chồng của chị có đứa con lai không?" Câu hỏi quá bất ngờ, có khi nào cậu lại nghĩ là họ sẽ hỏi vớ vẩn như thế. Nhưng có một sức mạnh thôi thúc cậu trả lời không đắn đo: "Phải rồi, tôi là chồng." Dĩ nhiên là cậu nói dối, nhưng tại sao có thể nói dối dễ dàng, nói dối tự nhiên vậy? Chắc hẳn là được thôi thúc bởi tình cảm cậu đã có mà chưa dám thổ lộ, cái ước muốn tự đáy lòng mà cậu không dám nói ra, thì bây giờ đây, có cái duyên nào đó đã xui khiến để cho người bộ đội ngồi trước mặt cậu nói ra thay cho cậu.

 

Người đó gọi mợ từ một căn phòng phía sau ra, trả lại giấy tờ và nói "Chị đi với chồng con chị đi, tôi thấy chị không phải Việt gian."

 

Con thử tưởng tượng nỗi vui mừng của tất cả, từ bà ngoại con đến mợ, đến cậu và cả con nữa. Chờ đợi mấy tiếng đồng hồ trong hồi hộp, không biết số phận mợ sẽ ra sao! Mợ con kể là họ nhất định đổ cho mợ là Việt gian, do Tây gài vào vùng giải phóng để làm gián điệp. Mợ phải kể họ nghe câu chuyện của mợ, một câu chuyện phần thì có thật, phần thêm mắm thêm muối, và cũng có phần không thật tí nào. "Khi tôi sống ở Sài Gòn với gia đình cha mẹ, tôi đã có chồng người Pháp, và kết quả là đứa con lai đang ở ngoài kia với bà ngoại nó. Nhưng tôi đã sớm nhận ra được sai lầm của mình nên đã bỏ chồng Pháp trong Sài Gòn, trở về quê ngoại và nay tôi đã có chồng người Việt đang đợi tôi ngoài kia." Mợ con kể là phải nói thế trong cơn nguy khốn, mong cậu thông cảm cho hoàn cảnh đó mà không chê cười. Nhưng khi mợ con thấy họ gọi cậu vào để đối chứng thì run quá, không biết hậu quả sẽ ra sao nếu cậu trả lời thật rằng cậu không phải là chồng! Cậu nói đó là trời run rủi cho cậu nhận là chồng, vì thật ra đó cũng là ước muốn thầm kín của cậu từ bấy lâu nay!

 

Đó chính là cách cậu tỏ tình với mợ con, một cách tỏ tình chẳng giống ai cả, nhưng đó là hoàn cảnh chiến tranh, hoàn cảnh hiểm nguy đến tính mạng. Và cũng là thời buổi cách mạng, thời buổi không có cái gì bình thường cả…

 

Nhưng con người vẫn phải sống, vẫn phải yêu…Qua giây phút vui mừng vì đã thoát hiểm, đến giây phút lo âu: đi đâu bây giờ? Đoàn người tản cư gần ba mươi người già trẻ lớn bé đã đi từ lâu rồi, không sao bắt kịp được nữa. Lúc đó mới nghĩ ra cậu có ông chú ruột ở phủ Đoan Hùng trên Phú Thọ, cách hai ngày đường. Ông chú có cái đồn điền, ngày xưa cậu đã lên chơi trên đó rồi, chắc ông sẽ cho mình tá túc. Gọi là đồn điền nhưng không phải bao la bát ngát như những đồn điền trong Nam đâu, chỉ là mảnh đất rộng trồng cây ăn trái thôi.

 

Thế là lại tiếp tục đi, rẽ về hướng Phú Thọ. Lếch tha lếch thếch, vừa đi vừa hỏi đường. Thật là một thời kỳ lạ lùng, một thời kỳ người ta dám bỏ nhà bỏ cửa ra đi khổ sở đến một nơi bất định, chỉ vì tự đáy lòng mọi người được thôi thúc phải đóng góp gì đó cho cuộc đấu tranh giành độc lập.

 

Và khi lên tới đồn điền của ông chú, thì chẳng khác gì gặp được thiên đường sau mấy ngày lội bộ vừa mỏi mệt vừa lo lắng không biết có chuyện gì xảy ra nữa không, sau vụ mợ con suýt bị bắt. Ông chú và cả gia đình ông đều mừng rỡ vồn vã đón tiếp cậu và cả nhà. Ngày xưa thời còn trẻ cậu có lên chơi vài lần, ông chú thương cậu lắm, nên bây giờ cậu đến mang theo cả bà ngoại con, mợ con và con, cũng không thành vấn đề. Thời buổi ngày xưa khác bây giờ, vả lại trên vùng nhà quê người ta hiếu khách lắm, nhất là đang thời kỳ loạn ly.

 

Hơn nữa, ông chú tương đối giàu có so với dân quê trong vùng, nhà cửa rộng rãi, có một cái nhà ngang cho cả gia đình mình ở. Gọi là giàu, nhưng con không thể so sánh với nhà giàu trong Nam bây giờ đâu, không phải "ngồi mát ăn bát vàng" đâu. Cả gia đình phải làm việc vất vả, dù có người giúp đỡ. Có điều ông có dư dả lúa gạo, ăn uống không phải lo bữa no bữa đói, thế đã là tốt lắm rồi. Ngày ấy dân chúng sống khổ lắm.

 

Sau khi đã tươm tất chỗ ăn chỗ ở, cậu xin ông chú tác thành chồng vợ cho cậu và mợ con. Phong tục xứ mình muốn thành vợ chồng phải qua gia đình hai họ, mặc dù trong trường hợp của cậu và mợ con rất đặc biệt, không phải do gia đình mai mối. Cậu mồ côi cha từ nhỏ nên chú thay cha là chuyện bình thường, mợ con cũng mồ côi cha từ nhỏ nên mẹ thay cha cũng tạm được. Theo tập tục người ta vẫn chuộng một người đàn ông trong gia đình hơn là một người đàn bà, dù là mẹ ruột, nhưng hoàn cảnh gia đình mợ lúc đó thì không có ai khác được.

 

Sau lần mợ con khai ở trạm kiểm soát rằng cậu là chồng để thoát nạn, cậu được thể thuyết phục mợ con lấy cậu. "Số phận đã an bài như thế rồi!" Đó là lý lẽ cậu đưa ra. Mợ con cũng siêu lòng, nhưng đặt cho cậu nhiều điều kiện. Thứ nhất là mợ không muốn làm vợ lẽ, cũng không muốn làm dâu, cậu phải dứt khoát hẳn người vợ đầu thì mợ mới thuận lấy cậu. Điều này cũng không khó gì cho cậu vì từ trước đến giờ cậu vẫn có ý đó và xem như đã dứt khoát rồi, dù vợ trước của cậu vẫn sống với mẹ của cậu. Coi như cậu đã thoát ly gia đình đi sống cuộc đời phiêu bạt từ nhiều năm rồi. Thứ hai là mợ muốn để bà ngoại con sống với gia đình, vì bà ngoại không còn thân nhân nào khác nữa, ông Phó thì đã trở về nhà sống với bà Phó già. Điều này đối với cậu là hiển nhiên, vả lại cậu vẫn có nhiều cảm tình với bà. Thứ ba và cũng là quan trọng nhất, mợ muốn cậu phải xem con như con ruột, phải thương yêu con giống như những đứa con sau này của cậu. Điều này không cần nói ra cậu cũng đã nghĩ thế rồi.

 

Thế là đám cưới được "tổ chức" tại đồn điền của ông chú. Có thể gọi là "đám cưới thời loạn" được, vì chẳng có rước dâu, chẳng có "xác pháo nhà ai tả tơi rơi đầy…"! Đơn giản tối đa, nhưng cũng bày bàn thờ lễ gia tiên, và mời vài người hàng xóm thân thuộc đến chứng kiến và cùng ăn một bữa tiệc cưới đơn giản.

 

Đám cưới đơn sơ như thế, nhưng hai vợ chồng đã được hưởng thật sự hạnh phúc trong suốt mấy tháng sống ở đấy, ví như một "tuần trăng mật" kéo dài. Hai "vợ chồng mới" giúp ông chú bà thím trong công việc hằng ngày của đồn điền, ít nữa là những công việc không nặng nhọc quá, vì cả cậu cả mợ trước đó đều sống ở thành phố là chính, đâu có quen với công việc ở nhà quê.

 

Lúc đó con lên 3 rồi, cậu mợ cũng rất mừng là con được sống trong hoàn cảnh thiên nhiên trong lành, con có chỗ tha hồ chạy nhảy trong vườn rộng. Lần đầu trong đời con được nhìn tận mắt con chuồn chuồn ban ngày và con đom đóm ban đêm. Trẻ con lớn lên ở đường phố tấp nập làm sao biết được mấy con vật dễ thương trong thiên nhiên này!

 

Sau này, bà ngoại và mợ còn nhắc mãi một mẩu chuyện về con lúc sống ở đồn điền đó. Một hôm đến lúc ăn trưa, không thấy con đâu cả. Gọi mãi cũng không thấy trả lời. Mọi người sợ quá chia nhau đi tìm trong vườn cây ăn trái, cuối cùng thấy con trốn sau nhà đang ngồi ăn quả mơ con hái trộm, vì mơ còn xanh chưa được hái. Mọi người không nhịn được cười, mặt con nhăn nhó vì quả mơ chua quá mà con vẫn cố ăn!

 

Nhưng cuộc đời đẹp đẽ có khi nào kéo dài mãi được đâu! Chiến tranh dần dần lan rộng, và quân đội Pháp cũng tiến đến gần đồn điền của ông chú. Đã nhiều lần trên đường đi chợ, cậu mợ phải nằm rạp xuống hai bên vệ đường vì máy bay Tây sà xuống thị uy, có khi bắn cả tràng liên thanh. Cũng may cậu mợ không việc gì, và cũng chưa chứng kiến ai bị trúng đạn cả. Mấy tháng sau được lệnh của ủy ban kháng chiến địa phương phải tản cư lần nữa, vì quân đội Pháp đã gần kề. Phải tiếp tục tiêu thổ kháng chiến. Đối với ông chú thì quyết định này rất khó thực hiện, công lao suốt đời gây dựng lên được nhà cửa vườn tược nay phải tự tay mình tiêu hủy đi, khó lắm chứ! Ông chú bảo gia đình cậu đi trước, rồi ông thu xếp nhà cửa sẽ đi sau…

 

Nhưng ra đi lần đó là cậu giã biệt với ông chú. Mãi sau này mới được tin là ông đã bị Việt Minh giết vì bị kết án là Việt gian. Ông ở lại đồn điền và khi quân đội Pháp đến, họ đã đóng quân trong đồn điền của ông. Thời buổi đó, người dân sống trong vùng tranh tối tranh sáng thấy mạng sống của mình như chỉ mành treo chuông, không biết lúc nào lãnh viên đạn của Tây hay của Việt Minh. Nếu ông chú không bị giết lúc đó thì sau này cũng khó mà thoát khỏi cảnh bị đấu tố trong cải cách ruộng đất. Mỗi làng xã phải tìm ra vài địa chủ để làm dê tế thần, dù là của cải ruộng đất chưa đáng để liệt vào thành phần địa chủ. Phải có đấu tố, phải có xử tử, mới có thể in sâu vào đầu người dân thế nào là đấu tranh giai cấp, nền tảng của chủ nghĩa cộng sản rập khuôn theo kiểu Tàu.

 

Thế là con lại được chui vào ngồi trong cái thúng với chiếc chiếu khum khum trên đầu che nắng che mưa. Cả gia đình lại lên đường, lần này với mảnh giấy giới thiệu của ủy ban kháng chiến Phú Thọ. Gia đình mình được chỉ định đến Phúc Yên.

 

"Tuần trăng mật" của cậu mợ kéo đài được mấy tháng. Mấy tháng đẹp nhất trong cuộc sống vợ chồng thời loạn…

 

 

 

 

 

 


 
Bùng lên trước khi tàn lụi (Bài 6)
Viết bởi td   
Chủ nhật, 21 Tháng 1 2018 09:52

 

BBT: Tìm hiểu lịch sử các cộng đồng sinh sống trên đất nước Việt Nam phải là một ưu tư của mọi nỗ lực nghiêm chỉnh nhằm đóng góp xây dựng Việt Nam tương lai. Chúng tôi xin giới thiệu công trình của tiến sĩ dân tộc học Nguyễn Văn Huy (Paris), qua loạt 8 bài viết, tìm hiểu về cộng đồng người Chăm tại Việt Nam. Bài 6: Bùng lên trước khi tàn lụi.

 

 

012118_1

.

Một hoạt cảnh vua Chế Mân cưới công chúa Huyền Trân - Courtesy photo

 

Bài 1, Bài 2, Bài 3, Bài 4, Bài 5, Bài 6, Bài 7, Bài 8

 
Nguyễn Phúc Nguyên: Vị Chúa của những kỳ công mở cõi đầu thế kỷ 17
Viết bởi sl   
Thứ tư, 17 Tháng 1 2018 00:00

 

"Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa là một trong những trang đẹp nhất, bi hùng nhất của lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam ta, mà chúa Nguyễn Phúc Nguyên là vị chúa có công mở đầu và khai sáng... Dưới quan điểm sử học mới, càng ngày chúng ta càng nhận ra rõ hơn, đầy đủ và chân xác hơn bức chân dung toàn hảo của ông - một vị Chúa Nguyễn kiệt xuất nhất trong lịch sử dân tộc, người Anh hùng đứng ở vị trí hàng đầu của những Anh hùng Mở cõi Việt Nam."

 

sung_than_cong

.

Một loại hỏa lực quốc phòng thời Chúa Nguyễn ở Đàng Trong

 
<< Bắt đầu < Lùi 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tiếp theo > Cuối >>

Trang 1/11

footer_banner_5

 kjgkfdjgkdjfg kjgkfdjgkdjfg