Cha Vô Danh: Hà Nội sục sôi khí thế (P. 8)
Viết bởi nq   
Thứ bảy, 18 Tháng 11 2017 08:55

 

"Ngày 17 tháng 8, cậu cùng mấy người bạn đến dự một cuộc biểu tình trước nhà hát lớn Hà Nội. Đây là một cuộc biểu tình của công chức để ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim, lúc đó chỉ còn là một chính phủ lâm thời vì ông Thủ tướng đã từ chức. Một diễn giả đang nói trên micro thì có một người nhảy lên cướp micro để hô những khẩu hiệu cách mạng, đồng thời một lá cờ đỏ sao vàng lớn được phất lên. Trong đám đông biểu tình cũng đột nhiên xuất hiện nhiều lá cờ đỏ sao vàng. Ngay lúc đó chẳng ai biết ất giáp gì,..."

 

 

De_pre_inconnu-PhamNgocLan

.

."De Père Inconnu” (“Cha Vô Danh”) của tác giả Phạm Ngọc Lân được nhà xuất bản lớn L’Harmattan ở Paris xuất bản và phát hành đầu tháng 2-2015

 

 

1- 2- 3- 4- 5- 6- 7- 8- 9- 10- 11- 12- 13- 14- 15- 16- 17- 18- 19- 20-

 

 

 

***

 

Hà Nội sục sôi khí thế - 1945

 

(Chuyện kể của người cha dượng)

 

Long à, con cũng biết là cậu vẫn xem con như con ruột. Hôm nay thấy con thích nghe kể những kinh nghiệm của người đi trước nên cậu cũng muốn kể cho con nghe những gì cậu đã trải qua trong thời trai trẻ. Thế hệ của cậu đã chứng kiến những biến cố quan trọng làm thay đổi sâu xa đất nước mình.

 

Cậu tự xem mình là "dân Hà Nội chính cống". Thật ra cha mẹ cậu cũng là người Hà Đông, không cùng làng với mợ con, làng quê cậu gần Hà Nội hơn. Nhưng sau này cậu lớn lên và được đi học ở Hà Nội, có được mảnh bằng "primaire" thì phải đi làm. So với bây giờ thì chỉ là cấp tiểu học, chẳng có nghĩa lý gì, nhưng trong những năm 20 và 30 thì học đến đấy cũng đã giúp cho mình có được nhiều kiến thức, và quan trọng nhất là có thể tìm được việc làm trong các công sở.

 

Cậu mồ côi cha từ bé, mẹ cậu là một người rất cổ xưa nên đã chọn cho cậu một người vợ theo ý của bà cụ mà không cần biết là cậu có bằng lòng hay không. Thời đó ở Hà Nội, thế hệ trẻ đã bắt đầu chịu ảnh hưởng của văn hóa tây phương, muốn thoát khỏi khuôn khổ gò bó của những phong tục cổ hủ, muốn được sống tự do phóng khoáng hơn, muốn lập gia đình với người mình yêu thay vì phải chịu sự áp đặt của cha mẹ. Một làn gió mới trong văn học cũng bắt đầu thổi vào cách suy nghĩ của giới trẻ, điển hình là báo chí và tiểu thuyết bằng quốc ngữ, trong đó phải kể đến nhóm Tự Lực Văn Đoàn (1).

 

Cậu bị giằng xé giữa cái cũ và cái mới, một bên là bổn phận giữ gìn chữ hiếu đối với mẹ và một bên là ý muốn tự định đoạt lấy đời mình. Rốt cuộc cậu đã không đủ ý chí và quyết tâm để cưỡng lại mẹ mình, nên cậu đã lấy một người vợ mà cậu không yêu thương, cũng không hòa hợp được.

 

Nhưng rồi các biến cố chính trị dồn dập trong năm 1945 làm cậu có cơ hội thoát ly khỏi gia đình và xung phong vào lực lượng thanh niên Tự Vệ Thành.

 

Muốn hiểu thêm về tình hình trong năm 1945, phải lấy điểm mốc là cuộc "đảo chính Nhật" đêm mùng 9 tháng 3 năm 1945 (2). Chỉ qua một đêm, Nhật làm chủ tình hình trên toàn cõi Đông Dương, cả Việt Miên Lào, sau khi quân đội của họ tấn công vào tất cả các cơ quan hành chánh và quân sự của Pháp. Ở Hà Nội, chỉ còn thấy lác đác vài người Pháp mặc thường phục, còn quân nhân Pháp hoặc đã tử trận khi chiến đấu chống quân Nhật, hoặc bị bắt làm tù binh, hoặc đã bỏ trốn sang Tàu. Ở Huế, Hoàng Đế Bảo Đại (3) được sự ủng hộ của Nhật, tuyên bố độc lập và hủy bỏ tất cả các hiệp ước về bảo hộ ký kết với Pháp trước đấy.

 

Đây là một biến cố làm dấy lên một hy vọng mới trong lòng người Việt. Bấy lâu nay lòng yêu nước vẫn tiềm tàng đâu đó, nhưng giờ đây, mọi người thấy là Pháp đã thua Đức năm 1940 phải cắt nửa nước cho Đức, giờ đây chỉ trong một đêm lại bị Nhật dẹp tan guồng máy cai trị. Thế thì Pháp có phải là một nước có binh hùng tướng mạnh như người ta tưởng không? Tại sao dân mình đông như thế lại phải tiếp tục chịu sự cai trị của một tập thể thiểu số người ngoại quốc? Một bầu nhiệt huyết mới dâng trào, một ý thức mới về độc lập dân tộc tăng mạnh, kết quả là một trào lưu đấu tranh giành độc lập bắt đầu sôi sục, ở Hà Nội cũng như mọi nơi.

 

Các tổ chức chính trị trước đây bị Pháp truy lùng phải rút vào bí mật, nay có dịp hoạt động mạnh: đảng Cộng sản Đông Dương (4) với mặt trận Việt Minh (5), các đảng phái quốc gia như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Quốc Dân Đảng, Đại Việt Duy Dân, Đại Việt Dân Chính (6). Trong khi đó thì tại Huế, một chính phủ "tân thời" do Hoàng Đế Bảo Đại triệu tập ra đời, với nhà sử học Trần Trọng Kim làm Thủ tướng, Ông Phan Kế Toại được chỉ định làm Khâm sai Bắc bộ đại diện Hoàng Đế Bảo Đại, ra Hà Nội ngồi làm việc ngay trong phủ Thống sứ cũ. Nội việc một người Việt Nam ngồi thay chỗ của Thống sứ Pháp đã mấy chục năm trị vì tại thủ đô cũng đã là một niềm tự hào, làm tăng thêm ý chí quyết giành độc lập của người dân.

 

Nhưng trong hoàn cảnh sôi sục chính trị như thế ở thủ đô, thì đất nước cũng đang phải gánh chịu một tai họa khủng khiếp giáng xuống miền Băc: đó là nạn đói năm 1945 làm không biết bao nhiêu người vùng châu thổ sông Hồng bị chết thảm. Phần vì lũ lụt và hạn hán năm đó trầm trọng hơn những năm khác. Phần vì Nhật cần sợi đay nên nhiều địa phương được lệnh phải trồng đay thay vì trồng lúa. Rồi bom Mỹ ném vào các đường giao thông để ngăn cản quân Nhật chuyển quân và tiếp tế, ảnh hưởng đến lưu thông hàng hóa của người dân nên lúa miền Nam thừa thãi không chuyển ra ngoài Bắc kịp thời được. Nhiều làng chết đói nhiều quá, dân làng bỏ đi lên tỉnh xin ăn, dọc đường tiếp tục chết vì kiệt sức. Đến được Hà Nội họ vẫn tiếp tục chết đói. Chính mắt cậu thấy ngay tại Hà Nội buổi sáng ra, xe bò nhặt xác người chết đói trong đêm đi qua đường phố. Đây là một tai họa chưa từng thấy trong lịch sử nước mình, sau này còn được nhắc đến mãi như là "nạn đói năm Ất Dậu".

 

Và đến tháng 8 năm 45 thì đúng là một tháng có những biến chuyển kinh thiên động địa, trên thế giới cũng như ở nước mình, có lẽ chưa khi nào trong lịch sử lại có nhiều thay đổi như thế. Đầu tháng là hai quả bom nguyên tử của Mỹ ném xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật. Cậu cũng như đa số dân chúng lúc bấy giờ chẳng biết bom nguyên tử là cái gì, chỉ nghe nói là một vũ khí ghê gớm, chỉ một quả bom thôi cũng đủ giết hàng ngàn hàng vạn người trong khoảnh khắc. Rồi Nhật đầu hàng, chấm dứt thế chiến thứ hai kéo dài hơn sáu năm.

 

Nhật đầu hàng, có nghĩa là tại Việt Nam, quân Nhật đang làm chủ tình thế cả Đông Dương, giờ đây chỉ còn ngồi chờ quân đồng minh đến để nạp vũ khí và nộp mình làm tù binh. Binh lính quân đội Pháp thì đã bị Nhật cầm tù từ ngày "đảo chính Nhật" 9 tháng 3, phải chờ quân đồng minh đến mới giải cứu được. Thủ tướng Trần Trọng Kim xin từ chức, Khâm sai Phan Kế Toại cũng xin từ chức. Nói tóm lại, về mặt chính trị là một sự trống vắng hoàn toàn! Thật là cơ hội ngàn năm một thuở cho những lực lượng cách mạng đứng lên trám vào khoảng trống đó, tức là đoạt lấy chính quyền.

 

Ngày 17 tháng 8, cậu cùng mấy người bạn đến dự một cuộc biểu tình trước nhà hát lớn Hà Nội. Đây là một cuộc biểu tình của công chức để ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim, lúc đó chỉ còn là một chính phủ lâm thời vì ông Thủ tướng đã từ chức. Một diễn giả đang nói trên micro thì có một người nhảy lên cướp micro để hô những khẩu hiệu cách mạng, đồng thời một lá cờ đỏ sao vàng lớn được phất lên. Trong đám đông biểu tình cũng đột nhiên xuất hiện nhiều lá cờ đỏ sao vàng. Ngay lúc đó chẳng ai biết ất giáp gì, nhưng thấy các khẩu hiệu đòi độc lập thì cũng hô theo, thế là cuộc biểu tình được lèo lái theo một chiều hướng khác bởi các cán bộ Việt Minh, cờ đỏ sao vàng chính là cờ của Việt Minh.

 

Đó là khởi đầu cuộc "Cách mạng tháng tám", và đến ngày 19, các lực lượng của họ đã vận động được dân chúng chiếm đóng các công sở chính ở Hà Nội. Họ cũng thuyết phục được Hoàng Đế Bảo Đại lúc đó đang ở Huế thoái vị. Nghe nói ông tuyên bố "muốn là người dân của một nước độc lập còn hơn làm Vua một nước nô lệ (7)". Đây là một câu nói được truyền tụng sau này, khiến cho hình ảnh của Hoàng Đế được kính nể hơn, vì trước đó vẫn bị xem như là một bù nhìn của chính quyền bảo hộ.

 

Sau khi thoái vị, Hoàng Đế Bảo Đại trở thành công dân Vĩnh Thụy và được mời làm Cố vấn Tối cao trong chính phủ lâm thời do ông Hồ Chí Minh8 lãnh đạo. Lúc ấy người dân thường như cậu chẳng biết Hồ Chí Minh là ai, lại nghe gọi là "Cụ Hồ" tưởng chắc là phải già lắm! Phải chờ đến ngày 2 tháng 9, khi chính phủ lâm thời tổ chức buổi lễ tuyên bố độc lập thì ông Hồ Chí Minh mới nổi tiếng vì hàng mấy trăm ngàn người tụ tập để nghe ông đọc tuyên ngôn độc lập. Cậu cũng như nhiều thanh niên khác hăng hái tham gia, dù không biết rõ Việt Minh là gì, dù không biết rõ Cụ Hồ là ai, cũng chẳng biết gốc gác của ông ra sao, chỉ biết họ là lực lượng tranh đấu cho độc lập nước nhà là mình theo thôi.

 

Nhưng sau đó thì bao nhiêu rắc rối xảy ra. Quân đội Anh vào phía Nam vĩ tuyến 16, quân đội Tàu vào phìa Bắc, đó là quân của phe Đồng Minh được phái đến Đông Dương để giải giới quân đội Nhật. Quân Anh cho quân Pháp đi theo, tướng Leclerc của Pháp được Tổng thống Pháp De Gaulle giao nhiệm vụ lập lại nền cai trị của Pháp như xưa trên toàn cõi Đông Dương. Còn quân Tàu là đạo quân của các tỉnh sát biên giới, Vân Nam, Quảng Tây và Quảng Đông, hơn trăm ngàn lính Tàu đói khát tràn vào đất Bắc. Hoàn cảnh miền Bắc thật là bi đát vì người dân đang bị nạn đói hoành hành, nay lại còn phải nuôi thêm một đạo quân đông đảo như thế.

 

Trong Nam, quân Pháp đánh chiếm lại các cơ sở của Việt Minh và nhanh chóng tái lập nền thống trị của họ. Ở Hà Nội, hai lực lượng quốc gia là Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội, gọi tắt là Việt Quốc và Việt Cách, từ Trung Hoa trở về với sự bảo trợ của các tướng Tàu, lập trụ sở ở Hà Nội công khai chống đối Việt Minh.

 

Qua đầu năm 46 ông Hồ Chí Minh bị áp lực của các tướng Tàu phải nhượng bộ thành lập chính phủ liên hiệp gồm thành phần của các phe Việt Minh, Việt Quốc và Việt Cách. Ông Nguyễn Tường Tam, một lãnh tụ Việt Quốc làm Bộ trưởng Ngoại giao, chính là nhà văn Nhất Linh đã làm say mê giới trẻ với những tiểu thuyết tân thời hấp dẫn. Ngoài ra người ta được biết thêm ông Nguyễn Hải Thần (Việt Cách) và ông Vũ Hồng Khanh (Việt Quốc) cũng giữ những chực vụ quan trọng trong chính phủ liên hiệp.

 

Bỗng nhiên một tin động trời như một gáo nước lạnh tạt vào mặt những người đang sôi sục máu nóng như cậu: chính phủ Hồ Chí Minh ký kết với chính phủ Pháp một hiệp định (9) cho phép quân Pháp từ miền Nam đổ bộ lên miền Bắc để thay thế quân Tàu đang đóng phía bắc vĩ tuyến 16 để giải giới quân Nhật. Ký kết với thực dân Pháp! Nghĩa là đã có thương lượng bí mật từ bao lâu nay rồi! Mọi người còn nhớ trong ngày tuyên bố độc lập 2 tháng 9, ông Hồ Chí Minh đã được mọi người hoan hô nhiệt liệt khi nói sẽ không điều đình với thực dân Pháp cơ mà! Thì ra chính trị nó rắc rối thế, cần nói thì cứ nói, cần làm khác thì cứ làm khác đi. Sau đó tìm cách giải thích. Rằng phải tạm thời hòa hoãn với Pháp để thoát khỏi nạn quân Tàu chiếm đóng nước mình. Rằng lịch sử đã cho ta bài học là quân Tàu luôn luôn rình rập để chiếm nước ta. Giải thích thế nào thì giải thích, lòng ái quốc của bao người dân vẫn bị tổn thương nặng nề khi quân Pháp do tướng Leclerc cầm đầu tiến vào Hà Nội và được chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đón tiếp. Quân Pháp trở lại trên toàn cõi Việt Nam, thế thì còn gì là độc lập nữa!

 

Dù đã có chính phủ liên hiệp, Việt Minh cộng sản và Việt Quốc Việt Cách quốc gia vẫn không thể sống chung, vẫn tìm cách hại nhau, nên khi quân Tàu rút đi, Việt Quốc và Việt Cách bị yếu thế cũng phải rút sang Tàu để tránh bị Việt Minh tiêu diệt.

 

Cậu theo phong trào chống Pháp đòi độc lập vì đó là lý tưởng chung của cả dân tộc phải gánh chịu ách thực dân từ bấy lâu nay, nhưng tại sao cùng người Việt với nhau cũng lại giết nhau mà không đoàn kết được để một lòng chống Pháp? Sau này mới hiểu rằng cái ý thức hệ nó có tác dụng ghê gớm thật, làm con người mù quáng…

 

Phải chăng yêu nước là phải yêu một chủ nghĩa? Cậu bắt đầu đánh dấu hỏi…

 

________________________

(1) Chữ Quốc Ngữ được các giáo sĩ Tây phương sáng chế ra từ thế kỷ 17, nhưng chỉ trở thành văn tự chính thức từ cuối thế kỷ 19 ở Nam Kỳ và từ đầu thế kỷ 20 trên cả nước.

 

Tự Lực Văn Đoàn do một nhóm văn nghệ sĩ thành lập năm 1933, lúc đầu gồm 7 người : Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam), Khái Hưng (Trần Khánh Giư), Thạch Lam (Nguyễn Tường Vinh sau đổi thành Nguyện Tường Lân), Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long), Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), Nguyễn Gia Trí và Thế Lữ (Nguyễn Đình Lễ sau đổi thành Nguyễn Thứ Lễ). Nhóm này chủ trương hai tạp chí Phong Hóa và Ngày Nay, và xuất bản nhiều tiểu thuyết có nội dung đả kích các phong tục cổ hủ làm cản trở bước tiến của dân tộc.

 

Cuối thập niên 30, đa số thành viên của Tự Lực Văn Đoàn hướng về hoạt động chính trị trong phong trào đấu tranh giành độc lập. Nổi tiếng nhất là Nguyễn Tường Tam thành lập đảng Đại Việt Dân Chính, sau phải trốn sang Tàu để tránh bị Pháp bắt. Tại đấy, ông sáp nhập đảng của ông vào Việt Nam Quốc Dân Đảng và trở thành một lãnh tụ của đảng này trong thời kỳ 1945-46, khi ông về nước hoạt động, rồi sau đó tham gia chính phủ liên hiệp của Hồ Chí Minh. Chẳng bao lâu, chính phủ này tan vỡ, ông lại phải trốn sang Tàu để thoát khỏi Viêt Minh. Khi Mao Trạch Đông toàn thắng, ông về lại Việt Nam để thoát khỏi cộng sản Tàu, sau đó vào sống ở miền Nam. Năm 1963, ông tự vẫn để phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm.

 

(2) Quân đội Nhật đã có mặt tại Đông Dương từ đầu thế chiến thứ 2. Theo các thỏa hiệp với chính quyền Pháp, họ được sử dụng Đông Dương làm căn cứ quân sự, đổi lại họ để nguyên cho Pháp cai trị Đông Dương như trước. Năm 1944, quân Đồng Minh đổ bộ lên đất Pháp ngày 6 tháng 6-1944, và dần dần đẩy quân Đức ra khỏi lãnh thổ Pháp. Paris được giải phóng ngày 25 tháng 8-1944. Chính quyền Vichy (thân Đức) của ông Pétain phải trốn qua Đức, ông De Gaulle lập chính phủ lâm thời ở Paris.

 

Chính quyền thuộc địa ở Đông Dương do Toàn quyền Decoux lãnh đạo, trước đó lệ thuộc chính phủ Vichy thân Đức và Nhật. Nay ở Pháp đã thay đổi chính phủ, vậy ông Decoux phải làm gì? Bên trong đã bí mật phục tùng chính phủ De Gaulle rồi, nhưng ngoài mặt vẫn phải ngọt nhạt với quân Nhật để hy vọng giữ nguyên tình trạng ổn định như trước.

 

Nhưng người Nhật cũng thừa biết là nếu Mỹ và đồng minh đổ bộ lên Đông Dương (như họ đã đổ bộ lên các nước lân cận bị quân Nhật chiếm đóng) thì quân đội Pháp sẽ theo phe đồng minh đánh lại Nhật. Do đó Nhật quyết định ra tay trước, triệt tiêu lực lượng của Pháp tại Đông Dương bằng một cuộc binh biến chớp nhoáng lúc 20 giờ ngày 9 tháng 3 năm 1945. Chỉ trong một đêm, trên toàn cõi Đông Dương, quân Nhật làm chủ tình hình gần như tất cả các yếu điểm, bắt làm tù binh quân nhân và công chức Pháp, kể cả Toàn quyền Decoux.

 

(3) Bảo Đại là Hoàng Đế thứ 13 và cuối cùng của triều Nguyễn. Ông sinh năm 1913 với tên Vĩnh Thụy, họ Nguyễn Phước. Năm 9 tuổi, ông được cha là Hoàng Đế Khải Định gửi qua Pháp học, dưới sự bảo hộ của ông Charles, một cựu Toàn quyền Đông Dương. Đây là một việc chưa hề có trong triều đình Huế.

 

Năm 1925, ông về nước lên ngôi với niên hiệu Bảo Đại khi vua cha băng hà, sau đó trở lại Pháp tiếp tục học hành, và chỉ trở về trị vì năm 1932 lúc ông 19 tuổi. Được hấp thụ những tư tưởng tiến bộ của Pháp, ông muốn cải tổ triều đình, muốn làm việc với những người trẻ có khả năng như hai ông Phạm Quỳnh và Ngô Đình Diệm để giành lại quyền cai trị của triều đình đã bị Pháp lấn lướt. Nhưng chính quyền bảo hộ chỉ muốn có một Hoàng Đế "làm vì" mà thôi, nên các cố gắng của ông đều bị vô hiệu hóa. Bản chất của ông thông minh, thiện chí của ông dư thừa, nhưng ông không có ý chí đủ mạnh để đi đến cùng những cải cách ông muốn thực hiện. Ông buông xuôi…

 

Ông kết hôn với bà Marie-Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan, con một gia đình giàu có miền Nam theo đạo Công giáo, được phong chức Nam Phương Hoàng Hậu. Sau này ông còn nhiều vợ khác, nhưng theo thỏa thuận ban đầu với bà Nam Phương, những người vợ sau này không có chức tước chính thức trong triều đình.

 

Năm 1945, sau khi Nhật "đảo chính" Pháp, ông tuyên bố độc lập ngày 11 tháng 3, và thành lập một chính phủ "tân thời" với Thủ tướng là ông Trần Trọng Kim, thay thế các cơ cấu cũ của triều đình. Sau khi Việt Minh cướp chính quyền tháng 8 năm 1945, ông thoái vị, trở thành "công dân Vĩnh Thụy" và chấp nhận làm cố vấn tối cao trong chính phủ của ông Hồ Chí Minh. Qua năm 1946, ông theo một phái đoàn của chính phủ này qua Trùng Khánh. Từ đó ông phải sống lưu vong ở Hồng Kông.

 

Năm 1947, sau khi chiến tranh đã bùng nổ vào cuối năm 1946, chính quyền Pháp không còn công nhận chính phủ của Hồ Chí Minh nữa nên muốn tìm một giải pháp khác. Ông Bảo Đại lại được Pháp tiếp xúc để thành lập một chính quyền quốc gia. Sau lần gặp gỡ sơ bộ với Cao ủy Bollaert trên chiến hạm Duguay Trouin ở vịnh Hạ Long cuối năm 1947, một cuộc gặp thứ hai được tổ chức cũng trên chiến hạm này ngày 5 tháng 6-1948 để ký kết hiệp định giữa ông Bollaert và ông Nguyễn Văn Xuân, Thủ tướng của một chính phủ lâm thời mới được thành lập, với sự chứng giám của Quốc trưởng Bảo Đại. Pháp công nhận Việt Nam là một nước độc lập nhưng là một quốc gia "liên kết" trong Liên hiệp Pháp.

 

Từ đó ông rời hẳn Hồng Kông để qua Pháp vận động chính quyền trung ương Pháp chấp nhận độc lập và thống nhất đất nước Việt Nam. Điều kiện thứ hai là "thống nhất", có nghĩa là Pháp phải trả lại Nam Kỳ cho Việt Nam, điều mà các phe nhóm thực dân Pháp không chấp nhận vì họ vẫn xem Nam Kỳ như một thuộc địa do họ xây dựng lên. Cuối cùng ông cũng thành công và ngày 8 tháng 3 năm 1949, ông ký với Tổng thống Pháp Vincent Auriol hiệp ước Elysées. Ông trở về Việt Nam vào tháng 4, sau khi Nam Kỳ được chính thức trao trả cho Việt Nam. Với chức vụ Quốc trưởng, ông thành lập chính phủ của Quốc Gia Viêt Nam.

 

Trong khi đó thì chiến tranh vẫn tiếp diễn, tháng 5 năm 1954 Pháp thua ở Điện Biên Phủ, hai tháng sau hiệp định Genève được ký kết ngày 20 tháng 7, chấm dứt chiến tranh. Lúc đó đang ở Pháp, ông mời ông Ngô Đình Diệm ra làm thủ tướng mong cứu vãn tình thế vì ông Diệm nổi tiếng là người chống Cộng. Qua tháng 10 năm 1955, ông Diệm tổ chức trưng cầu dân ý truất phế Quốc trưởng Bảo Đại, thành lập Việt Nam Cộng Hòa.

 

Cựu hoàng Bảo Đại không khi nào trở về nước nữa, và mất tại Paris năm 1997.

 

(4)  Đảng Cộng Sản Việt Nam được thành lập ngày 3 tháng 2 năm 1930 tại Hồng Kông bởi Nguyễn Ái Quốc, sau mấy tháng đổi tên thành Đảng Cộng Sản Đông Dương cho phù hợp với chỉ thị của Đệ Tam quốc tế. Đảng giải thể cuối năm 1945, thật ra là rút vào bí mật, và xuất hiện lại năm 1951 với tên Đảng Lao Động Việt Nam. Phải chờ đến năm 1976 sau khi chiếm được miền Nam đảng mới lấy lại tên nguyên thủy là Đảng Cộng Sản Việt Nam.

 

(5) Viêt Minh là viết tắt của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, thành lập bởi Nguyễn Ái Quốc tháng 5 năm 1941 tại hang Pác Bó gần biên giới Việt Trung. Thật ra, tổ chức này đã được Hồ Học Lãm thành lập bên Tàu từ năm 1936, Đảng Cộng Sản Đông Dương lấy lại nhằm quy tụ tất cả các tổ chức yêu nước đấu tranh cho độc lập, trong đó ĐCSĐD là chủ chốt. Năm 1951, mặt trận Việt Minh giải tán để sáp nhập vào một mặt trận rộng hơn, Mặt trận Liên Việt, vẫn dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao Động Việt Nam, tên mới của đảng cộng sản.

 

(6) Có thể kể 4 đảng phái quốc gia trong hậu bán thế kỷ 20.

 

1. Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) do Nguyễn Thái Học sáng lập năm 1927, theo khuôn mẫu của Quốc Dân Đảng Trung Hoa của Tôn Dật Tiên. Mục đích là đấu tranh giành độc lập và thành lập một chính quyền cộng hòa dân chủ. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930 thất bại, đảng trưởng Nguyễn Thái Học bị Pháp xử tử hình cùng với 12 đồng chí, hàng trăm người bị đầy đi khổ sai. Năm 1936 Mặt trận Bình dân (liên đảng phái tả) lên cầm quyền ở Pháp, các tù binh chính trị ở Đông Dương được trả tự do (đa số là đảng viên cộng sản hoặc VNQDĐ), đảng hoạt động mạnh trở lại. Nhưng khi bắt đầu thế chiến 2, Pháp lại truy lùng ráo riết nên thành phần lãnh đạo phải trốn qua Tàu, chỉ trở về Việt Nam năm 1945 khi quân Tàu vào miền Bắc để giải giới quân Nhật. Đầu năm 1946 VNQDĐ tham gia chính phủ liên hiệp của Hồ Chí Minh, nhưng chỉ được vài tháng lại bị Việt Minh tìm cách tiêu diệt nên phải trở qua Tàu. Sau khi Mao Trạch Đông toàn thắng, VNQDĐ cũng như các đảng phái quốc gia khác lại phải trốn về Việt Nam, sau năm 1954 hoạt động tại miền Nam.

 

2. Đại Việt Quốc Dân Đảng (ĐVQDĐ), do Trương Tử Anh, một sinh viên Y khoa ở Hà Nội sáng lập năm 1939, với chủ trương Dân Tộc Sinh Tồn, và tổ chức theo cách bí mật. Lúc đầu phát triển trong giới đại học Hà Nội (đại học duy nhất tại Đông Dương, quy tụ tất cả sinh viên Việt Miên Lào) trước khi tỏa ra các địa bàn hoạt động khác. Sau đó các lãnh tụ cũng phải lánh nạn qua Tàu, và lập ra Mặt Trận Quốc Dân Đảng gồm Đại Việt Quốc Dân Đảng, Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Dân Chính. Mặt trận này trở về nước sau khi Nhật đầu hàng và hoạt động công khai, trong khi Đại Việt Quốc Dân Đảng vẫn trong vòng bí mật. Qua 1946, xung đột đẫm máu giữa Quốc Dân Đảng và Việt Minh khiến đảng bị tan rã và lãnh tụ Trương Tử Anh mất tích. Sau này, Đại Việt Quốc Dân Đảng được tổ chức lại và phát triển mạnh trên toàn quốc, và tham chính ở miền Nam sau khi ông Ngô Đình Diệm bị lật đổ năm 1963.

 

3. Đại Việt Duy Dân do Lý Đông A (tên thật là Nguyễn Hữu Thanh) sáng lập năm 1942. Ông Lý Đông A mất tích năm 1946, có lẽ do Việt Minh sát hại. Đảng của ông sau này vẫn tồn tại nhưng với số ít đảng viên.

 

4. Đại Việt Dân Chính do Nguyễn Tường Tam (nhà văn Nhất Linh) sáng lập năm 1938. Đảng giải thể năm 1945 để sáp nhập vào Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc Dân Đảng tạo thành Mặt trận Quốc Dân Đảng.

 

(7) Câu này có trong chiếu thoái vị của Hoàng Đế Bảo Đại ngày 25 tháng 8 năm 1945: "Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị. Từ nay Trẫm lấy làm sung sướng được là Dân tự do, trong một nước độc lập. Trẫm không để cho bất cứ ai được lợi dụng danh nghĩa Trẫm, hay danh nghĩa hoàng gia để gieo rắc sự chia rẽ trong đồng bào của chúng ta. " (đăng trong hồi ký Con Rồng Việt Nam của Bảo Đại)

 

Hồi ký "Một Cơn Gió Bụi" của Trần Trọng Kim (lúc đó là Thủ tướng trong chính phủ lâm thời) ghi lại lời Bảo Đại nói với ông khi Việt Minh đã chiếm các công sở ở Hà Nội: "Trẫm có thiết gì ngôi Vua đâu, miễn là bọn Việt Minh giữ được nền tự chủ của nước nhà là đủ. Trẫm muốn là người dân của một nước độc lập còn hơn làm Vua một nước nô lệ".

 

(8) Ông Hồ Chí Minh dùng chính thức tên này từ năm 1942 trước khi trở qua Tàu và bị bắt (trước đó khi về nước thành lập mặt trận Việt Minh năm 1941 ở hang Pác Bó ông vẫn dùng tên Nguyễn Ái Quốc). Sau hơn một năm bị cầm tù bởi chính quyền Trung Hoa, ông được trả tự do và theo đề nghị của tướng Tàu là Trương Phát Khuê, năm 1944 ông tham gia vào việc cải tổ Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội (Việt Cách) để bao gồm cả Đảng Cộng sản Đông Dương và các đảng phái quốc gia tranh đấu giành độc lập. Nhưng sau này khi về Việt Nam thì Việt Cách dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Hải Thần trở thành đối thủ không đội trời chung của Việt Minh.

 

Sau đó ông trở lại Việt Nam, và cuối năm 1944, thành lập đội ngũ võ trang đầu tiên của Việt Minh (do Võ Nguyên Giáp chỉ huy) và tìm sự hỗ trợ của lực lượng đồng minh bằng cách cứu giúp các phi công Mỹ bị bắn rơi.

 

Tháng 8 năm 1945, ở Hà Nội Việt Minh cướp chính quyền ngày 19, ông về Hà Nội ngày 26 và tổ chức trọng thể buổi tuyên bố độc lập ngày 2 tháng 9.

 

Khi quân đội Trung Hoa vào miền Bắc để giải giới quân Nhật, các đảng phái quốc gia cũng theo về, ông phải nhượng bộ thành lập chính phủ liên hiệp trong đó có thành phần Việt Nam Quốc Dân Đảng (như hai ông Nguyễn Tường Tam và Vũ Hồng Khanh) và Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh hội (như ông Nguyễn Hải Thần). Đồng thời ông cũng phải thương lượng với Pháp qua đại diện của Cao ủy d’Argenlieu ở Hà Nội là Sainteny, đi đến việc ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, cho phép quân Pháp từ miền Nam ra đổ bộ lên miền Bắc thay thế quân Tàu. Khi quân Tàu rút về, các đảng phái quốc gia bị Việt Minh tìm cách tiêu diệt cũng phải bỏ qua lưu vong bên Tàu, chính phủ liên hiệp tan rã.

 

Tháng 6 năm 1946, ông qua Pháp vận động chính quyền trung ương ở Paris trao trả độc lập cho Việt Nam, trong khi tại hội nghị Fontainebleau, ông Phạm Văn Đồng cầm đầu phái đoàn Việt Nam thất bại trong việc đàm phán. Ông về nước vào tháng 9 đem theo một tạm ước (modus vivendi) ký với Bộ trưởng bộ Thuộc địa Marius Moutet.

 

Nhưng căng thẳng tiếp tục leo thang ở Hà Nội và đến cuối năm 1946, ông chọn giải pháp kháng chiến võ trang, rút toàn bộ chính phủ của ông vào chiến khu. Chiến tranh bùng nổ từ đó.

 

Năm 1950, sau khi Mao Trạch Đông toàn thắng Tưởng Giới Thạch trên lục địa, ông qua Bắc Kinh gặp Lưu Thiếu Kỳ và qua Moskva gặp Stalin và Mao (lúc đó đang thăm viếng Liên Xô) và thuyết phục được hai nước này công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và giúp huấn luyện và cung cấp vũ khí quân trang quân dụng cho quân đội. Cuộc kháng chiến chống Pháp dần dần biến thành cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa hai khối quốc tế, và Mỹ bắt dầu giúp Pháp về mặt tài chánh trong cuộc chiến ở Đông Dương.

 

Đầu năm 1953, ông phát động chiến dịch cải cách ruộng đất theo khuôn mẫu của Trung Quốc, với sự thúc đẩy của các cố vấn Tàu có mặt tại chỗ, tịch thu tài sản đất đai của địa chủ phân phối cho người nghèo, kèm theo phong trào đấu tố theo bài bản đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản của chủ nghĩa cộng sản. Sau ba năm áp dụng với hàng ngàn người bị giết (không có thống kê chính xác: 5000 người? 15000 người?) kể cả những người bị giết oan, ông phải "nhận khuyết điểm và sửa sai".

 

Năm 1954, Pháp thua trận Điện Biên Phủ, hiệp định Genève được ký kết, đất nước tạm thời bị chia hai. Gần một triệu người di cư từ miền Bắc vào miền Nam để trốn chạy cộng sản, nhất là khi biết được những chuyện xảy ra trong cải cách ruộng đất. Miền Nam dưới chính thể tự do được Mỹ viện trợ trở nên trù phú, không chấp nhận tổng tuyển cử để thống nhất đất nước vì không muốn sống dưới chế độ cộng sản. Đến năm 1959 đảng Cộng sản họp Trung ương đảng ở Hà Nội quyết định thống nhất bằng cách xâm chiếm miền Nam bằng vũ lực. Các cán bộ còn ở lại miền Nam năm 1954 được lệnh thành lập Mặt trận Giải Phóng, và tiến hành cuộc « Đồng khởi » (1960) nhưng thất bại. Đồng thời đường mòn Hồ Chi Minh được xây dựng để chuyển quân vào miền Nam. Cuộc chiến quốc gia – cộng sản bắt đầu trong Nam từ đấy, miền Nam với sự hỗ trợ của Mỹ, miền Bắc với sự hỗ trợ của Liên Xô và Trung Quốc.

 

Năm 1965, miền Nam trong cơn xáo trộn chính trị sau cuộc đảo chính năm 1963 không còn đủ khả năng chống lại quân cộng sản nữa, Mỹ quyết định đem quân vào miền Nam trực tiếp lãnh đạo chiến tranh, ném bom miền Bắc và dần dần chiến tranh lan qua cả Campuchia và Lào là những nơi dùng làm hậu cứ cho quân miền Bắc trên đường vào Nam. Hành động này của Mỹ làm cho cả thế giới lên án một cường quốc đem quân đến "ăn hiếp" một nước nhỏ, và ngay tại Mỹ làn sóng chống chiến tranh lan mạnh đến cực độ. Chính quyền Mỹ không chiến thắng nhanh chóng được như dự tính ban đầu, bị sa lầy ở chiến trường, bị chính quốc hội không cho tiếp tục, và đành bỏ rơi chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

 

Nhưng ông Hồ Chí Minh không sống được đến ngày quân đội của ông tiến vào dinh Độc Lập ở Sài Gòn. Ông mất ngày 2 tháng 9 năm 1969 sau nhiều năm đau yếu. Trong di chúc ông muốn được hỏa táng, tro mang chôn tại ba miền đất nước, nhưng đảng của ông đã không cho ông được toại nguyện, đem xác ông bày trong hộp kính cho mọi người nhìn ngắm theo kiểu của Liên Xô.

 

(9) Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 được ký kết giữa một bên là Sainteny đại diện chính phủ Pháp và một bên là Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh, đại diện chính phủ Việt Nam.

 

Sở dĩ ông Hồ Chí Minh đã phải thương thuyết mật với ông Sainteny tại Hà Nội là vì chính phủ trung ương Pháp ở Paris đã ký kết với chính phủ Trung Hoa Dân Quốc ở Trùng Khánh một hiệp ước ngày 28 tháng 2 năm 1946, theo đó quân Tàu sẽ rút khỏi miền Bắc nhường chỗ cho quân Pháp đến để giải giới quân Nhật. Tướng Leclerc đã được lệnh từ Paris phải tái lập bằng mọi giá nền thống trị của Pháp tại Đông Dương, nên nếu không có Hiệp định Sơ bộ thì quân Pháp cũng sẽ đổ bộ lên miền Bắc bằng vũ lực, chiến tranh sẽ bùng nổ ngay vào thời điểm đó.

 

Ông Hồ Chí Minh đã chọn giải pháp tạm hòa hoãn bằng cách ký Hiệp định Sơ bộ 6 tháng 3, trong đó có khoản cho phép 15000 quân Pháp vào miền Bắc rồi sẽ rút đi dần dần trong 5 năm, đổi lại nước Pháp "công nhận Cộng hòa Việt Nam là một quốc gia tự do có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng, nằm trong Liên bang Đông dương và Liên hiệp Pháp." ("reconnait la République du VIET-NAM comme un Etat libre ayant son Gouvernement, son Parlement, son Armée et ses Finances, faisant partie de la Fédération Indochinoise et de l'Union Française.")

 

Bản tiếng Pháp mang tựa đề là "Convention Préliminaire", dịch chính xác là "Thỏa thuận Sơ bộ" hơn là "Hiệp định Sơ bộ". Dự trù sẽ tiếp tục thương thuyết tại Paris để đi đến một hiệp ước, nhưng hội nghị Đà Lạt chuẩn bị cho hội nghị Paris thất bại, rồi hội nghị Fontainebleau (thay vì Paris) cũng thất bại. Nguyên nhân chính của sự thất bại là Pháp không muốn trao trả thuộc địa Nam Kỳ cho Việt Nam, và tự ý dựng lên nước "Nam Kỳ Tự Trị" trong khi các hội nghị đang tiến hành.

 

footer_banner_4

 kjgkfdjgkdjfg kjgkfdjgkdjfg