Cha Vô Danh: Hà Hồi, làng quê tôi - 1945 (P. 6)
Viết bởi nq   
Chủ nhật, 27 Tháng 8 2017 10:47

 

"Tôi còn nhớ bánh trôi bày trên đĩa như những viên bi to trắng xóa rất đẹp, nhưng mà còn bé ăn phải coi chừng, dễ nghẹn lắm đó! Bà ngoại dặn thế."

 

 

De_pre_inconnu-PhamNgocLan

.

."De Père Inconnu” (“Cha Vô Danh”) của tác giả Phạm Ngọc Lân được nhà xuất bản lớn L’Harmattan ở Paris xuất bản và phát hành đầu tháng 2-2015

 

 

1- 2- 3- 4- 5- 6- 7- 8- 9- 10- 11- 12- 13- 14- 15- 16- 17- 18- 19- 20- 21- 22- 23- 24-

25- 26- 27- 28- 29- 30- 31- 32- 33- 34- 35- 36- 37- 38- 39- 40- 41- 42- 43- 44- 45- 46- 47- 48- 49-

 

 

***

 

Hà Hồi, làng quê tôi - 1945

(Trích nhật ký của Long)

 

Tháng giêng 2007.

 

Một buổi sáng đẹp trời, một chút gió mát. Se se lạnh. Gọi là lạnh chứ dĩ nhiên chẳng thấm gì với cái lạnh cóng người tháng giêng bên Pháp mà tôi vừa nếm mùi mới tuẩn trước đây. Tháng giêng và tháng hai là những tháng lạnh nhất mùa đông bên trời Âu.

 

Mấy anh em dừng xe trước cổng ga Thường Tín chụp tấm hình kỷ niệm.

 

 

ChaVoDanh6_1

Tác giả và em gái trước cổng ga Thường Tín, 2007

 

 

Sáng sớm hôm nay xe đò Sinh Café thả ba anh em xuống trước trạm ngay gần khu trung tâm Hà Nội, trong khi các xe đò khác phải đậu ở bến rất xa. Tôi quyết định dành ngày đầu tiên ở đây cùng với hai vợ chồng Hoài và Vy đi thăm làng Hà Hồi là quê ngoại của hai anh em tôi.

 

Cũng như trên con đường từ Nha Trang ra Ba Ngòi vài ngày trước, chúng tôi thuê hai chiếc xe Honda và theo quốc lộ 1 xuôi nam, đi ngược lại con đường xe đò mới đưa chúng tôi từ Huế ra Hà Nội đêm qua.

 

Cách lái xe hai bánh ở Hà Nội chẳng thua gì ở Sài Gòn: cũng ẩu như nhau! Có phần còn ẩu hơn nữa, vì số lượng xe Honda tăng vọt nhanh chóng, người lái xe còn hăng máu lắm! Cũng may, tuy đã sống từ lâu bên Pháp và bên Mỹ, tôi vẫn còn kinh nghiệm xe đạp, xe Honda, rồi xe Vespa ngày còn trẻ ở Sài Gòn, nên không nao núng giữa dòng xe lúc nào cũng sẵn sàng lấn lên như muốn tông vào mình!

 

Ra khỏi nội thành Hà Nội, chúng tôi qua Văn Điển, nổi tiếng vì ở đây là nghĩa trang lớn nhất Hà Nội (i). Rồi đến Ngọc Hồi, địa danh quen thuộc với học trò cả nước khi học sử vì đây là một trong những chiến thắng quyết định của vua Quang Trung đánh đuổi quân Thanh vào mùa xuân năm 1789 (Hà Hồi, Ngọc Hồi, Đống Đa). Đến một ngã tư có tấm bảng chỉ Hà Đông về phía tay phải. Tôi lại nhớ như in câu Ông Phó dặn khi tôi mới sáu bảy tuổi gì đó: "Con nhớ nhé, quê ngoại con là làng Hà Hồi, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông." Nhưng gần đây tôi mới khám phá ra là làng Hà Hồi nay không còn thuộc tỉnh Hà Đông nữa, mà thuộc tỉnh Hà Tây! Quái! Sao có thể tương phản đến như thế nhỉ! Đang "đông" lại dời qua "tây"? Truy tìm mãi mới vỡ lẽ: trong một cuộc sắp xếp lại các tỉnh thành, hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây ráp lại làm một, lấy tên là Hà Tây (1).

 

Ga Thường Tín lớn hơn ga Ngã Ba ở Ba Ngòi nhiều. Phía sau nhà ga có nhiều đường sắt và những dãy dài toa chở hàng hóa. Tôi tình cờ gặp một nhân viên làm việc ở đấy, hỏi thăm mới biết ga Thường Tín tuy khá lớn, nhưng các chuyến tàu chở khách không ngừng lại đây nữa. Ga này chỉ còn dùng cho các tàu chở hàng hóa thôi. Tôi lại chợt nhớ bà ngoại tôi thích kể về ông ngoại khi còn làm việc ở Hà Nội, mỗi lần về nhà luôn luôn dùng tàu hỏa từ ga Hàng Cỏ đến ga Thường Tín, chỉ có 19 km. Bây giờ ai cũng dùng đường bộ, xe máy hay xe đò, chẳng còn dùng tàu hỏa cho quãng đường ngắn như thế nữa.

 

 

ChaVoDanh6_2

Phía trong ga Thường Tín 2007

 

 

Đi tiếp trên quốc lộ 1 về phía nam, đến một ngã tư, phía trái có tẩm bảng đề "Bộ Văn Hóa – Đình làng Hà Hồi đã xếp hạng di tích lịch sử văn hóa – 800m" Mũi tên trên tấm bảng chỉ vào con đường nhỏ đi vào làng Hà Hồi. Một thoáng xúc động: tôi vừa đặt chân lên ngôi làng quê ngoại sau 56 năm xa cách.

 

 

ChaVoDanh6_3

Đầu đường vào làng Hà Hồi 2007

 

 

Con đường vào làng không có cây đa cổ thụ đón chào người phương xa về nghỉ chân dưới bóng mát như trong truyện cổ xưa, mà chỉ có con đường tráng xi-măng vừa đủ rộng cho hai xe hơi có thể tránh nhau nếu chịu khó nép sát vào vách nhà hai bên đường.

 

Và rồi đình làng xuất hiện trong một khu công viên thật rộng, sừng sững với bức tường bao bọc có 5 cổng vào. Cổng chính thật đồ sộ, hai cổng hai bên tuy nhỏ hơn nhưng cũng rất bề thế, thêm hai cổng nhỏ ngoài cùng. Tiếc là phía trong đang sửa chữa xây cất lại (nhờ có tiền của nhà nước khi được công nhận là di tích lịch sử văn hóa) nên không vào được để ngắm ngôi đình thiết kế như thế nào. Nhìn quang cảnh bên ngoài như thế thì chắc bên trong cũng bề thế không kém.

 

Đình làng Hà Hồi được xây dựng từ cuối thế kỷ 16. Vào cuối thể kỷ 18, vua Quang Trung đã đóng quân trong khuôn viên ngôi đình này để chuẩn bị đánh trận Đống Đa là chiến thắng quyết định trong mùa xuân năm Kỷ Dậu đuổi quân Thanh ra khỏi bờ cõi.

 

 

ChaVoDanh6_4

Đình làng Hà Hồi 2007

 

Hai vợ chồng Hoài và Vy đã một lần đến đình làng này mấy năm về trước, trong một chuyến phiêu lưu mạo hiểm hơn một tháng trời từ Nam ra Bắc bằng chiếc xe “Honda” Trung Quốc cũ mèm. Bình thường ra thì chuyến đi như thế cũng chưa thể gọi là “phiêu lưu mạo hiểm”, nhưng với tình trạng đường sá vào thời điểm đó, và nhất là với cách lái xe bạt mạng của tài xế xe đò, nếu không bị tai nạn trên suốt dọc quốc lộ 1 từ Sài Gòn ra Hà Nội thì đúng là một phép lạ. Và phép lạ đã không xảy ra với cặp vợ chồng liều lĩnh này. Khi gần đến Hà Nội tai nạn đã xảy ra, nhưng không phải do tài xế xe đò lái ẩu, mà vì… thằng bé con đi xe đạp băng qua đường mà không cần biết có xe nào khác trên đường hay không! Hai vợ chồng ngã sóng soài vì lách tránh thằng bé, không may gặp đúng chỗ trơn trợt. Tuy chỉ bị thương nhẹ, nhưng cũng đành phải tiếp tục cuộc hành trình với chiếc xe Honda nằm trên mui một chiếc xe đò!

 

Tuy gặp tai nạn trắc trở như vậy, Vy và Hoài vẫn rất thích thú với chuyến đi bằng xe hai bánh này. Hoàn toàn tự do muốn nghỉ đâu thì nghỉ, muốn ngừng đâu thì ngừng. Được ngắm nhìn đất nước hùng vĩ trên đỉnh “đèo Ngang bóng xế tà” hay dừng chân để ngậm ngùi bên hai dòng sông2 “chia tay chân và cắt đứt ngang mình” như Phạm Duy hát trong Mẹ Việt Nam (ii).

 

Trước chuyến đi đó, tôi đã truyền lại cho cô em những gì tôi biết về làng Hà Hồi. Ngày xưa mẹ và bà ngoại hay kể cho tôi nghe về cuộc sống ở quê ngoại, vì trong mấy anh em chỉ có mình tôi được sống ở đấy vài năm lúc còn bé tí.

 

Vì thế nên hai vợ chồng đã đến ngôi đình làng này một lần từ bốn năm trước, còn tôi lần đầu tiên trong đời được thấy tận mắt một công trình kiến trúc cổ xưa, một ngôi đình mà tôi chỉ được biết qua văn chương (“đình là nơi thờ Thành hoàng và cũng là nơi hội họp của người dân”) hoặc thấy hình ảnh đâu đó trong sách vở. Quả thật có chút xúc động khi nghĩ đến bao thế hệ tổ tiên mình đã từng ra vào nơi này trong các buổi hội họp đình đám…

 

Tôi cũng muốn đến thăm nhà thờ làng Hà Hồi, nghe bà và mẹ nói cũng to lắm. Hỏi thăm người dân làng, chúng tôi theo mấy con đường ngoằn ngoèo vào xóm đạo. Lại nhớ ngày xưa bà ngoại hay khoe đường làng toàn lót gạch, không phải đường đất lầy lội khi trời mưa như nhiều làng khác, chứng tỏ Hà Hồi sung túc. Bây giờ, gần một thế kỷ đã qua, lớp gạch đã biến mất dưới lớp xi-măng, có nơi dưới lớp nhựa đường. Và những người dân quê áo nâu đi bộ trên con đường gạch đó cũng được thay bằng những thanh niên cưỡi xe máy chạy tất tả chẳng khác gì người dân thị thành.

 

Nhà thờ nằm ở cuối một con đường nhỏ, sát cạnh khu vườn rau. Một lần nữa tôi lại vô cùng ngạc nhiên vì một nhà thờ làng mà sao bề thế quá! Ba tháp chuông sừng sững, một kiến trúc tôi chưa được thấy trước đây. Thường thì chỉ một tháp chuông như nhà thờ “con gà” ở Đà Lạt (iii), hoặc hai tháp chuông thường thấy ở những nhà thờ quan trọng hơn như nhà thờ Đức Bà Sài Gòn hay nhà thờ chính tòa Hà Nội.

 

 

ChaVoDanh6_5

Nhà thờ làng Hà Hồi 2007

 

Một cổng sắt lớn mở vào một cây cầu bắc trên một hồ nước, dẫn đến khuôn viên rộng rãi chung quanh nhà thờ. Hai bên hông là hai ngôi nhà khang trang, đầu nhà kiến trúc rất đẹp có tượng trên đỉnh. Chắc hai ngôi nhà dùng làm phòng hội họp, lớp học… Tôi lại miên man nghĩ đến mẹ tôi lúc đi học, chắc là lớp học cũng nằm trong ngôi nhà này. Lại tưởng tượng hình bóng những đứa bé từ hơn bảy chục năm trước đã chạy nhảy đùa giỡn trong khuôn viên này, trong đó có mẹ tôi!

 

Vòng ra phía sau nhà thờ, lại một ngạc nhiên nữa: nhà xứ là một ngôi nhà lớn, hai tầng, kiến trúc theo lối Pháp xưa, quét vôi màu vàng nhạt. Một bức tường bao bọc nhà xứ cách biệt với khuôn viên nhà thờ, có cổng sắt dẫn vào một sân lớn với nhiều chậu kiểng chăm sóc thật kỹ lưỡng.

 

Vy bấm chuông, một cậu trai trẻ ra mở cổng, cho biết cha xứ đi vắng. Nhưng vẫn mời chúng tôi vào nhà uống trà. Cậu giới thiệu các hình ảnh treo trên tường chụp trước đó mấy năm khi làm lễ kỷ niệm nhà thờ được một trăm năm. Cậu giải thích thêm cha xứ nhà thờ này cũng là một giáo sư dạy ở Đại chủng viện thánh Giuse ở Hà Nội3. Chính cậu cũng là một học trò của cha, tức là một chủng sinh. Cậu cũng cho biết là từ vài năm nay, Đại chủng viện được chính quyền chính thức cho phép tuyển sinh hằng năm.

 

Chúng tôi cám ơn cậu chủng sinh và rời nhà xứ với những tình cảm tốt đẹp. Chỉ chén nước trà đơn sơ với vài cái kẹo lạc và bánh đậu xanh, nhưng sao vẫn cảm thấy cái tình người chân thật trong cách đối xử với những người hoàn toàn xa lạ…

 

Cũng vừa đến gần trưa, Hoài đề nghị tìm ăn món gì đơn giản của dân làng. Chúng tôi quyết định đi ra chợ.

 

Chợ nằm trên một khu đất rộng, gần ruộng, không phải trong trung tâm làng như tôi tưởng. Chợ khá lớn, gồm rất nhiều hàng quán bao quanh một cái nhà chợ cũ kỹ. Cái nhà chợ này nhỏ so với diện tích chung quanh, chắc là xây cất từ rất lâu, và có lẽ từ lâu chưa quét lại lớp vôi vàng. Hàng chữ lớn trên mặt tiền: “Chợ Vồi, Xã Hà Hồi”. “Làng Vồi, chợ Vồi”, ngày xưa tôi được bà ngoại và mẹ nhắc đến bao nhiều lần rồi, nhưng nay được đọc chữ “Vồi” ghi trên bức tường ngôi nhà chợ… tôi không khỏi bồi hồi!

 

 

 

ChaVoDanh6_6

 

 

 

Cái chợ này giống như bao nhiêu chợ khác ở các làng quê miền Bắc, chẳng có gì đặc biệt cả. Nhưng đối với mọi người thì thế, còn đối với tôi là cả một quá khứ sâu thẳm hiện về. Hơn sáu chục năm trước, chắc chắn cái nhà chợ cũng y hệt như bây giờ. Và gần cửa cái nhà chợ đó, bà ngoại và mẹ tôi đã dựng một túp lều bán nước và vài cái bánh kẹo cho người qua đường ngồi nghỉ chân uống bát nước chè tươi. Tôi được nghe bà ngoại kể bao nhiêu lần là tôi quanh quẩn suốt ngày với bà và mẹ ở cái quán cóc đó, và khách ghé hàng ai cũng thích xoa đầu đứa bé lai Pháp tóc nâu nhạt…

 

Đó là thời gian gần hai năm từ tháng 3 năm 1945 khi cả gia đình phải từ giã Sài Gòn trở về quê. Lúc đó tôi mới được 14 tháng, chập chững chạy đi. Chính ở ngôi làng này, tôi đã bập bẹ những tiếng đầu tiên, và cũng vì thế tôi vẫn còn giữ giọng nói làng Hà Hồi, mặc dù tôi sinh ra trong Sài Gòn, mặc dù sau này tôi sống rất lâu trong Nam.

 

Tôi mường tượng một thằng bé con níu áo mẹ trên đường từ nhà ra quán, đi trên những con đường hôm nay tôi đang đi qua. Nó có chạy nhảy chung quanh hàng quán không, hay là nhút nhát ngồi nép vào bà vào mẹ? Nó có chơi với những đứa trẻ khác không? Nó có bị bắt nạt vì nó lai không? Không biết! Không nhớ!

 

Vy và Hoài kéo tôi ra khỏi những mộng tưởng về quá khứ, đi vào trong nhà chợ và ngồi xuống mấy cái ghế đẩu thấp trước mặt một quán hàng quà. Ghế đẩu tôi nhớ ngày xưa bằng gỗ, bây giờ toàn bằng nhựa. Gọi là quán, thật ra là một cái sạp bán quà bánh thì đúng hơn. Cô chủ hàng còn trẻ bặt thiệp mời chào khách. Tôi đã nghe nhiều về cách đối xử đôi khi không lịch sự của người bán hàng đối với khách hàng, nhưng có lẽ số tôi hên, chưa gặp cảnh đó bao giờ.

 

Tôi ăn cái bánh chưng rán, rồi bánh trôi và bánh chay. Bên Pháp hay bên Mỹ, bánh chưng ngày Tết rất ngon nếu biết chỗ mua, và sau vài ngày cũng thưởng thức món bánh chưng rán, trong Nam gọi là bánh chưng chiên. Nhưng cái bánh của cô hàng này là bánh chưng nhỏ, dùng làm quà hằng ngày, không phải loại bánh chưng ngày Tết là bánh to để bày cúng. Và bánh chưng rán cũng chỉ là để nguyên cái bánh rán lên cho nóng và có thể hơi vàng bên lớp nếp ở ngoài. Nhưng ăn vẫn thấy ngon. Có lẽ vì ăn trong chợ Vồi với bao nhiêu hồn thiêng quanh quẩn đâu đây?

 

Khi thấy bánh trôi và bánh chay thì hình ảnh bà ngoại tôi lại hiện về. Tôi còn nhớ rất rõ, hằng năm, bà ngoại chỉ làm hai loại bánh này có một lần thôi, vào dịp một cái “Tết” gì đó (iv). Bánh chay sau này vào Nam ăn chè xôi nước cũng tương tự và cũng rất ngon tuy không giống hẳn, còn bánh trôi thì ít còn thấy, vì chỉ là cục bột có nhân là cục đường thẻ bỏ vào luộc khi chín nổi lên nên gọi là “trôi”. Tôi còn nhớ bánh trôi bày trên đĩa như những viên bi to trắng xóa rất đẹp, nhưng mà còn bé ăn phải coi chừng, dễ nghẹn lắm đó! Bà ngoại dặn thế. Và không thể không nhắc đến bài thơ của Hồ Xuân Hương “Thân em vừa trắng lại vừa tròn…”

 

Trong suốt cuộc hành trình với hai vợ chồng Hoài Vy, tới địa phương nào chúng tôi cũng tìm ăn những món địa phương, nhưng không phải trong những tiệm “đặc sản” dành cho du khách, dù có thể rất ngon nhưng đó là cái ngon đã được chế biến để theo tiêu chuẩn và sở thích của người tây phương và người Việt sống lâu ngày bên trời tây. Ở Mũi Né ăn món lẩu dê quán Tám Lộc “không có chi nhánh” như nêu rõ trên bảng hiệu. Ở Cam Ranh ăn trong “Quán cơm Đồng Xoài” là một quán mà khách phần đông là tài xế xe vận tải Sài Gòn - Hà Nội, không có một du khách nào cả. Tôi được ăn cơm với mực xào rau, tôm chiên và canh chua cá hồng, chưa khi nào ngon như thế! Ngon không phải vì là cao lương mỹ vị, mà vì mực tôm cá, cả rau đều rất tươi, và nhà bếp rất khéo. Và rất rẻ! Ở Hội An tôi được ăn tô cao lầu của một bà bán gánh ngoài lề đường, chỉ bán từ 2 giờ chiều đến 4 giờ là hết, đi về! Dĩ nhiên do người địa phương mách bảo. Và cũng người địa phương mách quán mì Quảng “cây da kèng” (hỏi kỹ lại mới biết là “cây đa cằn”, quán nằm gần gốc một cây đa cổ thụ cằn cỗi, buổi tối chung quanh có nhiều hàng quán). Ở Đà Nẵng ăn tô bún bò bà Đào có từ ngày xửa ngày xưa. Ở Huế được ăn bánh khoái (v) đêm khuya ở gần Thành Nội đường Mai Thúc Loan, ăn chè đậu ván và chè khoai môn ở cửa Thượng Tứ.

 

Sau buổi quà trưa trong chợ Vồi, chúng tôi đi tìm quán cà-phê. Không thể nào thiếu mục này được! Hoài là một tay “cà-phê thuốc lá hạng nặng”, nên sáng nay trên quốc lộ trước khi rẽ vào làng Hà Hồi, anh chàng đã nhắm một quán “cà-phê vườn” ngay bên lề đường.

 

Từ nhiều năm rồi, sau khi có “đổi mới”, nhiều nhà ở các thành phố có vườn rộng sửa sang lại làm “cà-phê vườn”, khách đến uống cà-phê, ăn bánh ngọt, nghe nhạc nhẹ, dưới tàn lá cây, một nơi lý tưởng để nghỉ ngơi hoặc tâm sự với bạn bè, xa tiếng ồn ào của phố xá.

 

Quán bên quốc lộ 1 này không hẳn là một cà-phê vườn đúng nghĩa, mà là một gian nhà lớn bằng tre trang hoàng giản dị, rộng rãi mát mẻ, nhìn ra mảnh vườn rộng đang được tu bổ lại.

 

Chúng tôi vào gọi cà phê, Hoài châm điếu thuốc lá. Bình thường như mọi khi thôi. Nhưng không ngờ, từ cái cảnh “như mọi khi” ấy lại là đầu mối cho tôi thực hiện một việc mà tôi hằng ấp ủ từ mấy chục năm qua…

 

________________________

 

(i) Nghĩa trang Văn Điển thuộc huyện Thanh Trì (nổi tiếng từ ngày xưa có bánh cuốn Thanh Trì, loại bánh cuốn rất mỏng, không có nhân chỉ có chút mỡ hành và cũng không « cuốn », người sành điệu mới cảm thấy được cái ngon của bánh cuốn này) chính thức đóng cửa năm 2010 để xây dựng lại thành một "công viên nghĩa trang".

 

(ii) Ca khúc "Những dòng sông chia rẽ" trong phần "Sông Mẹ" của trường ca "Mẹ Việt Nam" của Phạm Duy, Phạm Ngọc Lân hát với đàn ghi-ta: http://www.youtube.com/watch?v=J_-ayr87GlM

 

(iii) Dân Đà Lạt ai cũng gọi nhà thờ chính tòa Đà Lạt là nhà thờ "con gà" vì trên đỉnh tháp chuông có con gà bằng kim loại dùng làm đầu cột thu lôi. Tác giả sống thời gian dài tại đây khi còn trẻ nên cũng nghĩ như nhiều người : con gà là một đặc điểm của nhà thờ Đà Lạt nên người ta mới gọi là "nhà thờ Con gà". Khi qua Pháp mới thấy là tất cả làng mạc lớn nhỏ đều có nhà thờ cổ xưa, và nhà thờ nào cũng có con gà! Vậy là bên Pháp có cả chục ngàn "nhà thờ con gà" là ít!

 

(iv) Tìm trên mạng Internet thì thấy đó là "Tết Hàn Thực" (hàn thực là thức ăn nguội) ngày 3 tháng 3 ta. Hồi nhỏ tôi chỉ được biết Tết Đoan Ngọ ngày 5 tháng 5, được ăn bánh gio (bánh tro) và rượu nếp để giết sâu bọ.

 

(v) Có mấy người quen, gốc Huế lâu đời, cho biết "bánh khoái" nguyên ủy là "bánh khói" vì khi đổ bột vào khuôn, khói bay lên nghi ngút. Nhưng qua cách phát âm của người Huế, "khói" nghe gần như "khoái" nên "bánh khói" trở thành "bánh khoái"!

 

(1) Từ năm 2008, thành phố Hà Đông trở thành quận Hà Đông thuộc thủ đô Hà Nội, nằm trong đề án « mở rộng thủ đô Hà Nội ». Huyện Thường Tín cũng thuộc về Hà Nội từ đấy.Hà Đông, ngoài áo lụa và "sư tử", còn nổi tiếng vì các thay đổi hành chính chóng mặt! Ngày xưa thị xã Hà Đông là tỉnh lỵ tỉnh Hà Đông, đến năm 1965 trở thành tỉnh lỵ tỉnh Hà Tây (khi hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây sáp nhập làm một), năm 1975 là tỉnh lỵ tỉnh Hà Sơn Bình (do Hà Tây và Hòa Bình sáp nhập). Đến 1991 Hà Sơn Bình lại tách ra thành hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình như cũ, thị xã Hà Đông vẫn là tỉnh lỵ Hà Tây. Đến năm 2006, từ thị xã, Hà Đông "lên chức" thành phố. Được có 2 năm, đang là "thành phố Hà Đông" bị tụt xuống thành "quận Hà Đông".

 

(2) Sông Gianh thuộc tỉnh Quảng Bình nổi tiếng trong lịch sử là dòng sông chia cắt đất nước trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh, từ cuối thế kỷ 16 đến cuối thế kỷ 18. Phía bắc sông Gianh do quân Chúa Trịnh án ngữ ở đèo Ngang trước cuộc Nam tiến kia là ranh giới giữa nước Việt và Chiêm Thành. Phía nam do quân Chúa Nguyễn cố thủ với lũy Thầy do Đào Duy Từ xây đắp.Sông Bến Hải thuộc tỉnh Quảng Trị chia cắt đất nước trong hơn 20 năm ở vĩ tuyến 17. Sông đổ ra biển Đông ở cửa Tùng. Phía bắc sông là huyện Vĩnh Linh, phía nam là Gio Linh, cây cầu bắc qua sông là cầu Hiền Lương.

 

(3) Đại chủng viện Thánh Giuse Hà Nội nằm ở phố Nhà Chung, gần nhà thờ lớn Hà Nội. Hoàn thành trong những năm 30, Đại chủng viện bị đóng cửa thời gian dài khi đất nước bị chia cắt. Gần đây được mở cửa trở lại, và được chính thức tuyển sinh để đào tạo các linh mục. Đây là một trong 8 đại chủng viện tại Việt Nam hiện nay (2015): Hà Nội, Bùi Chu, Nghệ An, Huế, Nha Trang, Sài Gòn, Xuân Lộc, Cần Thơ.


 

footer_banner_5

 kjgkfdjgkdjfg kjgkfdjgkdjfg